MỖI KHOẢNH KHẮC VỚI CON TRAI CỦA TÔI LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG CỦA SỰ SÁNG TẠO

Viet Thanh Nguyen viết về đạo làm con, làm cha và làm cha mẹ như một hành động sáng tạo và sáng tạo trong ấn bản này cho New York Times .

https://vietnguyen.info/2020/every-moment-with-my-son-is-an-act-of-creation

Tín dụng: Nhung Lê

Cuối tuổi 40, tôi lại được làm cha lần thứ hai, khi mà tôi chưa bao giờ mong muốn được làm cha. Cha của tôi, 85 tuổi, đã rất phấn khởi khi tôi kể cho ông ấy nghe về đứa cháu thứ năm của ông ấy.

Anh ấy là một người đàn ông vô cảm khi tôi lớn lên, tập trung vào việc tồn tại khi là một người mới đến đất nước này. Chúng tôi đã sống hai câu chuyện điển hình của Mỹ. Đối với cha mẹ tôi, câu chuyện là câu chuyện về sự giàu có từ những người nhập cư hoặc tị nạn tìm thấy thành công. Đối với cả gia đình chúng tôi, đó là câu chuyện đau buồn của hai thế hệ, cha mẹ sinh ra ở nước ngoài và đứa con là người Mỹ lớn lên, bị ngăn cách bởi ngôn ngữ, văn hóa và cảm xúc.

Cha mẹ tôi coi tôi như một đứa trẻ Mỹ hóa nổi loạn, người hầu như không thể nói tiếng mẹ đẻ của mình, tiếng Việt; Tôi thấy họ là những người xa lạ bảo thủ đến mức cuồng tín, những người chỉ tin vào Chúa, hy sinh và làm việc chăm chỉ.

Họ cung cấp cho tất cả các nhu cầu của tôi – thức ăn, chỗ ở, giáo dục và tôn giáo – khiến tôi vô cùng đặc ân ở một đất nước không cung cấp những thứ này cho tất cả trẻ em của nó. Tuy nhiên, những gì tôi muốn là những gì tôi đã thấy trên truyền hình, những gia đình hạt nhân đầy tình cảm và biểu cảm trong “Để lại cho hải ly”, “Father Knows Best” và “Những cuộc phiêu lưu của Ozzie và Harriet.”

Nhưng những câu chuyện này không thể nói về cuộc sống của người tị nạn Việt Nam, bởi vì, như nhà văn Lạc Sử đã đặt tiêu đề cho cuốn hồi ký của mình, “Tôi yêu người da trắng”. Thật kỳ diệu, sau nhiều thập kỷ ở đất nước này, giờ đây cha tôi không ngại nói “Tôi yêu bạn” – bằng tiếng Anh – với con trai đầu lòng của tôi, Ellison, điều đó khiến tôi vô cùng ngạc nhiên và hạnh phúc. Cha tôi đã dạy tôi rằng không bao giờ là quá muộn để nói: “Con yêu mẹ”.

Lớn lên và trở thành một người cha, tôi nhận ra rằng thời gian có thể co giãn. Tuổi thơ của tôi, với những chiều sâu và đỉnh cao của cảm xúc, chưa bao giờ nguôi ngoai. Cha tôi vừa là người già yếu, nhạy cảm và giàu cảm xúc như ngày nay, vừa là bậc cha mẹ nghiêm khắc, không bộc lộ tính cách của tuổi trẻ tôi. Những nỗ lực của anh ấy để thu hẹp khoảng cách giữa chúng tôi hiếm khi thành công. Chẳng hạn, anh ấy đã cố gắng mang âm nhạc vào nhà chúng tôi, nhưng thay vì tặng tôi một cây đàn hay một cây đàn piano đắt tiền, anh ấy lại mang về nhà một cây đàn organ, bởi vì anh ấy và mẹ tôi là những người Công giáo sùng đạo muốn nghe nhạc tôn giáo.

Tôi đã học một bài và không bao giờ muốn chơi lại. Nó vẫn nằm trong một góc của phòng ăn, một di tích bằng gỗ của những năm đầu thập niên 80, thậm chí còn không hợp thời trang vào thời đó, thể hiện một Đạo Công giáo Việt Nam ngột ngạt và trừng phạt mà tôi đã từ chối.

Điều tôi không thể thấy là cây đàn organ còn là hiện thân của một thứ khác trong cha tôi: tinh thần tín ngưỡng, sáng tạo và nghệ thuật. Anh lớn lên trong nghèo khó, ở một vùng nông thôn nghèo khó ở miền Bắc Việt Nam. Anh ấy là định nghĩa của một người đàn ông tự lập, vượt qua nguồn lực hạn chế của mình và xây dựng hai cơ nghiệp, một lần ở Việt Nam và một lần nữa ở Mỹ. Ngoài là một doanh nhân, doanh nhân, anh còn có niềm yêu thích âm nhạc. Anh tự học cách chơi cây đàn organ đó, một phần là để thờ phượng Chúa nhưng cũng chỉ đơn giản là để nghe và chơi những bản nhạc tôn giáo mà anh yêu thích. Âm nhạc đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của anh ấy, vì anh ấy đã cho tôi biết bằng cách hát cho tôi nghe những bài hát thời trẻ của anh ấy, mà anh ấy đã học trong nhà thờ và trường học cách đây bảy thập kỷ. Thời gian cũng co giãn đối với anh ta.

Giờ đây, anh vẫn tiếp tục chơi đàn piano điện và tự học cách chơi đàn mandolin, chỉ đơn giản là vì niềm vui của nó. Tôi ước gì mình được nhìn thấy mặt này của anh ấy khi tôi đang sống trong nhà của anh ấy. Nhưng lịch sử đã không phụ lòng chúng ta, đã không cho chúng ta cơ hội này để biết và khám phá những khía cạnh sáng tạo và cảm xúc của chúng ta với nhau. Anh ấy chưa bao giờ nói với tôi về tình yêu của anh ấy đối với âm nhạc, và tôi cũng chưa bao giờ nói với anh ấy rằng tôi muốn trở thành một nhà văn. Chúng tôi không có đủ thời gian để dành cho nhau.

Tôi sợ hãi việc trở thành một người cha bởi vì tôi không biết liệu mình có thể tìm thấy thời gian, hay tình yêu, để rảnh rỗi. Tất cả thời gian dành cho việc viết lách của tôi, đó là hành động sáng tạo của tôi. Tôi kỳ vọng rằng một đứa trẻ sẽ là một người tiêu dùng rất nhiều cả thời gian và tình yêu. Điều tôi không ngờ là một đứa trẻ, con trai tôi, sẽ làm nhiều hơn là đòi hỏi; anh ấy sẽ dạy tôi – một cách vô tình, bởi sự tồn tại của anh ấy – cách yêu và cách dành thời gian cho tôi, một điều mà tôi không muốn chia sẻ.

Tôi không chỉ đóng vai trò tạo ra một đứa trẻ, tôi còn khám phá ra rằng tình phụ tử đã tái tạo tôi bằng cách buộc tôi phải công nhận rằng việc tạo ra một đứa trẻ không chỉ dừng lại ở lúc mới sinh ra. Mỗi khoảnh khắc với con trai tôi là một phần của hành động sáng tạo này, và của sự sáng tạo.

Tất cả thời gian mà cha tôi không thể dành cho tôi, tôi dành cho con trai tôi. Có lẽ có thể đoán trước được, là con trai của một nhà văn, ông đã trở thành một độc giả mạnh mẽ. Ít có thể dự đoán được rằng chúng tôi sẽ trở thành một bộ đôi cha con.

Khi cháu lên 5, tôi đưa cháu đến nhà văn, nơi cháu gặp Bảo Phi và Thi Bùi, tác giả và họa sĩ minh họa của cuốn sách thiếu nhi mà cháu yêu thích, “A Other Pond”. Được truyền cảm hứng, anh ấy đã vẽ và tự thuật một cuốn truyện tranh của riêng mình (tôi viết lại lời của anh ấy). Tôi đã đăng nó trên Facebook và một biên tập viên tại McSweeney’s đã hỏi liệu công ty có thể xuất bản nó hay không. Với hy vọng có thể thu hồi được một phần chi phí mà tôi đã phải gánh chịu từ đứa con trai rất đắt đỏ của mình, tôi đã nói đồng ý.

Nhiều công việc cần được thực hiện. Tôi viết thêm lời, trong khi Thi tranh thủ vẽ cho cậu con trai 12 tuổi tên Hiền vẽ những bức tranh mới. Cô tô màu cho tác phẩm của anh ấy, và năm nay, cuốn sách của Ellison được xuất bản với tên gọi “Chicken of the Sea”. Tất cả câu chuyện là của anh ta, cuộc hành trình thất bại của những con gà buồn chán bỏ chạy khỏi trang trại để trở thành cướp biển.

Tâm trí người lớn của tôi không bao giờ có thể nghĩ ra câu chuyện này. Tôi nghĩ về những thứ dành cho người lớn như chiến tranh, những người tị nạn và chủ nghĩa hiện đại, không phải về những kỵ sĩ chó và những kho vàng được cất giấu. Nhưng ngày xưa, khi tôi 7 hay 8 tuổi, tôi cũng mơ ước được trốn thoát, đã viết và vẽ một cuốn sách có tên “Lester the Cat”, kể về một con mèo thành thị bị mắc chứng ennui chạy về vùng nông thôn và tìm thấy tình yêu. Thư viện địa phương ở San Jose, California, đã trao cho tôi một giải thưởng, và tôi bắt đầu nghĩ mình là một nhà văn. Thủ thư trường tôi đưa tôi đến lễ trao giải. Cha mẹ tôi quá bận rộn trong công việc. Tôi chưa bao giờ cho họ xem cuốn sách. Điểm là gì?

Bây giờ, điểm mấu chốt, khi tôi nghiên cứu về đứa con gái mới lớn của mình, hồng hào và đang ngủ, bàn chân của nó to bằng ngón tay cái của tôi, là mối quan hệ của cha mẹ và con cái được bao bọc bởi tình yêu, thời gian và sự sáng tạo. Tiền bạc và các nguồn lực xã hội để nhận ra tiềm năng của cả trẻ em và cha mẹ cũng là một phần của mối quan hệ này. Mặc dù chúng hầu như không đảm bảo về tình yêu, thời gian và sự sáng tạo, nhưng ít nhất chúng cũng khiến những điều đó dễ dàng chia sẻ hơn cho những ai muốn.

Nghịch lý thay, một số kỷ niệm đẹp nhất của tôi thời thơ ấu là từ những năm đầu tiên chúng tôi ở Hoa Kỳ, khi cha mẹ tôi chưa bắt đầu gây dựng lại vận may bằng cách trở thành chủ cửa hàng và cuối cùng là chủ sở hữu bất động sản. Họ là tầng lớp lao động, làm việc quần quật trong tiệm giặt ủi ở viện dưỡng lão và một nhà máy đánh máy. Họ có thêm thời gian để dành cho tôi. Tôi tự hỏi họ nghĩ tôi sẽ trở thành gì, nhưng tôi hoàn toàn chắc chắn rằng họ không mong đợi tôi trở thành một nhà văn.

Hành động viết đòi hỏi người viết phải dành rất nhiều thời gian và tình yêu. Nhà văn phải yêu viết, phải yêu sáng tạo của mình, phải yêu nhân vật của mình, cho dù họ làm gì. Các con tôi là nhân vật của tôi, và tôi là nhân vật đối với chúng. Họ sẽ kể những câu chuyện về tôi, ít nhất là với chính họ. Tôi sẽ bị hiểu lầm, như tôi đã hiểu lầm cha tôi, nhưng có lẽ tôi cũng sẽ được hiểu, vì tôi hy vọng tôi hiểu cha tôi.

Ông và mẹ tôi đặt tên tôi theo tên của người Việt Nam, giống như một cái tên yêu nước như người ta có thể tưởng tượng. Cái tên này hóa ra là chính xác, vì tôi đã làm hết sức mình để bảo vệ người Việt Nam, ngay cả khi họ không phải lúc nào cũng thích những gì tôi nói. Cũng với tinh thần đó, vợ chồng tôi đặt tên con gái là Simone, theo tên Simone de Beauvoir, Simone Weil, Nina Simone. Những phụ nữ mạnh mẽ và sáng tạo cũng là những người chấp nhận rủi ro.

Không có sự sáng tạo, hay sự sáng tạo nào, bao gồm cả việc tạo ra và nuôi dạy con cái, mà không có rủi ro. Bây giờ tôi hiểu điều mà tôi chưa bao giờ làm khi còn nhỏ: rằng tôi là sản phẩm của việc cha mẹ tôi đã mạo hiểm. Nguy cơ món quà tình yêu của họ sẽ bị từ chối; rủi ro rằng chúng sẽ bị hiểu lầm; rủi ro rằng sự sáng tạo của họ sẽ có một cuộc sống của riêng mình.

Các tác giả không bao giờ có thể đoán trước được cách thức mà các tác phẩm của họ thành ra, vì vậy hình dạng cuộc đời của Simone vẫn còn phải xem. Nhưng đối với Ellison cho đến nay, sau khi “Chicken of the Sea” được xuất bản, tôi đã nói với anh ấy rằng anh ấy không chỉ là con trai của tôi. Anh ấy cũng là đồng tác giả của tôi.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những quân bài



Ngày sinh của bạn tiết lộ tính cách của bạn và toàn bộ câu chuyện cuộc đời bạn. Tìm hiểu bạn là ai và bạn đang chơi lá bài nào trong cuộc sống. Tìm hiểu thêm về bản thân bạn và những lá bài bạn được chia vào ngày bạn sinh ra. 

Cardology, môn khoa học huyền bí cổ đại về chơi bài, tiết lộ ai, cái gì, ở đâu, khi nào, tại sao và như thế nào trong cuộc sống của bạn, từ khi sinh ra cho đến khi chết. Khám phá những lá bài, cuộc đời và số phận của bạn! 


https://thecardsoflife.com/

Đăng tải tại Uncategorized | 3 phản hồi

Hương cuội – Nguyễn Tuân

“…có một vườn hoa là một việc dễ dàng, những đủ thời giờ mà săn sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối đãi với giống hoa cỏ không bao giờ biết lên tiếng. Như thế mới phải đạo, cái đạo của người tài tử. Chứ còn cứ gây được lên một khoảnh vườn, khuân hoa cỏ các nơi về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đày chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay thì chơi hoa làm gì cho thêm tội….”



Đứa cháu đích tôn và lũ cháu ngoại đang loay hoay ngoài sân với những đồ đồng ngũ sự lổng chổng trên đám trấu và tro đẫm nước.

Ông chúng, cụ Kép làng Mọc, cũng đang loay hoay với mấy chục chậu lan xếp thành hàng dưới giàn thiên lý.

Trái với thời tiết, buổi chiều cuối năm gió nồm thổi nhiều.

Cơn gió nồm thổi nhẹ, như muốn nhạo cái ông già kia mặc cả một tấm áo trấn thủ bằng lông cừu trắng. Trời nồm nực, bức đến tắm nước lã được, ông cụ Kép mặc áo lông cừu xứ Bắc! Không, đấy chỉ là một thói quen của cụ Kép. Mỗi khi cụ ra thăm vườn cảnh, trong một năm, trừ những ngày hạ ra không kể còn thì lúc nào cũng khoác tấm áo cừu. Mùa xuân, mùa thu, khí hậu ấm, áo mở khuy. Sang đến đông tuyết, cụ cài hết một hàng khuy nơi áo, thế là vừa. Trong cái vườn cây nhỏ, trong đám cỏ cây xanh rờn, những buổi sớm tinh mơ và những buổi chiều tàn nắng, người ta thường thấy một ông già lông mày bạc, tóc bạc, râu bạc, mặc áo lông trắng, lom khom tỉa những lá úa trong đám lá xanh. Cụ Kép nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý.

Buổi chiều ba mươi Tết năm nay, cả một cái gia đình cũ kỹ nhà cụ Kép đang tới tấp dọn dẹp để ăn tết.

Mợ ấm cả, mợ ấm hai ngồi lau lá dong chăm chỉ. Thỉnh thoảng họ ngừng tay để hỏi nhau xem còn thiếu những thực phẩm gì trong cái mâm cơm cúng chiều nay. Lũ con đàn bi bô ngoài sân. Chúng đang đánh bóng ở ngoài sân những lư, đỉnh, cây đèn nến bằng đồng mắt cua và bằng thiếc sông Ngâu. Chốc chốc, lũ trẻ lại mỉm cười, nghển những đầu thưa thớt ít sợi tóc tơ, nhìn vào phía trong nhà cầu, hỏi mẹ chúng:

– Bao giờ cậu mới về, hả mợ?

Không biết nên trả lời con trẻ thế nào cho tiện, mợ ấm cả đưa mắt cho mợ ấm hai.

Ông ấm cả và ông ấm hai, đi làm việc ở tận xa chưa thấy về ăn Tết. Cứ lời những người trong làng có người đi làm việc nhà nước thì được nghỉ những từ chiều hai mươi chín kia mà. Muốn được khuây nỗi mong, hai chị em dâu, người đã đứng tuổi, càng thái đồ nấu cỗ cho thực nhanh. Gớm, những miếng trứng tráng để bày mặt cỗ bát, thài hình miếng trám, sao mà đẹp thế. Đứng bên cạnh mẹ, đứa nhỏ nhất trong đàn con đã thủ thỉ van nài mợ ấm hai:

– Mợ cho con cái miếng mợ cắt hỏng kia nhá!

Người mẹ không nghỉ tay làm việc trên tấm thớt. Lừ mắt nhìn con. Thằng bé vội chạy ra ngoài, sán đến cạnh cụ Kép:

– Ông đang làm gì thế hở ông?

–  ấy chết, cháu đừng mó vào hoa của ông. Ông đang thăm xem đúng hôm nào thì hoa của ông nở đủ.

– Ông cho cháu một cái… Cháu xin ông cái lá gẫy kia nhá!

– Cháu không nghịch được những thứ này. Thôi, đi lên trên nhà với ông. Mợ cháu mà trông thấy cháu ra nghịch cây của ông, thì cháu lại phải đòn đấy.

Nhớ đến trận đòn phất trần hôm nọ, vì trót nghịch gẫy mất mấy giò lan của ông nội, thằng bé mặt phụng phịu và hai tay đánh đai vào mình ông già, kéo trĩu cả tấm áo lông cừu. Nó làm nũng ông và quấn quít lấy ông, mong ông sẽ che chở cho, nếu mẹ nó nom thấy nó ra nghịch chậu cây cấm.

Cụ Kép cười khà khà. Rồi cụ lại vạch từng gốc rò lan, xem xét tỉ mỉ đến màng hoa, đến rò lan và thân lá. Hết chậu này đến chậu khác.

Tưởng chừng như cháu mình cũng là một người biết đến chuyện chơi cây, hiểu đến thời tiết trong một năm, có đủ những kinh nghiệm, thói tục và thông minh của người lớn, ông già đã nói với cháu bé:

– Tự nhiên, cuối năm lại nổi gió nồm. Cháu có thấy bực mình không? Ông tiếc cho mấy chục chậu lan của ông quá. Nở hết thôi!

Đứa cháu không hiểu đến ý nghĩa câu than phiền của ông già, ngửng bộ mặt ngây thơ lên, hỏi hai ba lần:

– Hoa sắp nở, sao lại tiếc hở ông?

Cụ Kép nhìn lại cái người bé tí hon đứng với mình trong vườn lan, thân cao không vượt khỏi cái lá lan uốn cầu vồng, cụ Kép đãi đứa cháu ngây thơ một nụ cười rất độ lượng, mắt nhấp nháy kính tuổi:

– Nếu không có nồm, thì hoa trong vườn ông còn lâu mới nỏ. Hoa sẽ nở nhằm vào ngày rằm tháng giêng. Đúng vào ngày Tết Nguyên Tiêu. Ông cháu chúng ta sẽ có hoa mà thưởng xuân, cháu đã hiểu chưa? Bây giờ cháu chạy vào gọi bõ già ra đây cho ông bảo.

– Bõ đi ra bờ ao rửa đá cuội từ ban trưa kia ông ạ.

Phải, phía cầu ao trong vườn cụ Kép, một người lão bộc, đang lom khom dúng rổ đá xuống nước ao và sàng sẩy rổ đá như kiểu người ta sàng mẹt gạo. Tiếng đá bị tung lên dập vào nhau kêu sào sạo, khiến lũ cò trắng nghỉ chân trên lũy tre vội bay mất. Bõ già nghỉ tay, nhìn đàn cò sợ hãi bay cao, với nét cười của một người chịu vui sống trong sự an phận.

Bõ ở với cụ Kép đã lâu lắm. Cái hồi cụ Kép còn là một thầy khóa sinh hai mươi tuổi, bõ già đã nếm cơm ở của nhà này rồi. Chính bõ vác lều chõng cho cụ đi thi tú tài. Những việc lớn nhỏ trong nhà, bõ đều nhớ hết. Bõ nhớ cả đến ngày giỗ giúi trong họ. Không có bõ nhắc nhỏm có lẽ nhiều lần mợ ấm cả đã bỏ mất ngày giỗ. Bõ già hình như chỉ trải cuộc sống của mình để hằng năm, nhắc nhỏm đến những ngày giỗ trọng và giỗ giúi của gia đình người khác.

– Thưa mợ, đến mười sáu tháng tư này lại là chính kỵ cụ ngoại… Thưa mợ…

Mợ ấm cả, muốn tỏ sự cảm ơn, kín đáo đãi bõ già một miếng trầu kèm miếng cau tươi mềm. Trong cái gia đình yên lặng này, bõ già được thiện cảm của mọi người, không phải vì ỏn thót mà chính vì lòng thẳng thắn. Lắm lúc trông tội nghiệp lạ. Bõ tính toán, xếp đặt việc nhà chủ y như một người có quyền lợi dính dấp vào đấy. Cái hoài bão to lớn của bõ, là lúc trăm tuổi nằm xuống sao được một cái “áo” gỗ vàng tâm thật dày.

ở đây, không ai nỡ nói nặng bõ. Và, đến những việc nặng, mọi người đều tránh cho bõ già. Công việc thường trong một ngày, có nhiều hôm chỉ thu vào việc chuyên trà tàu và thay bã điếu cho cụ Kép. Thậm chí trong những ngày cuối năm bận rộn như hôm nay, mà bõ già cũng không phải mó tay vào việc gì cả. Làm lợn gói giò chả, vo gạo, đồ đậu xanh làm bánh chưng, làm dầu đèn, lau bàn thờ, nhất nhất không việc gì phải qua tay bõ. Mãi đến trưa hôm ba mươi Tết, cụ Kép mới bảo bõ già đi rửa mấy trăm hòn đá cuội trắng. Nghe thấy bõ già nhận lấy cái việc rất ngộ nghĩnh đó, cả nhà đều cười. Thứ nhất là lũ trẻ con. Cụ Kép vẫn nghiêm trang dặn người bõ già:

– Bõ đem đá ra bờ ao rửa cho sạch. Lấy bẹ dừa mà kỳ cho nhẵn, cho trắng tinh ra. Xong rồi, lựa những viên đá tròn bỏ vào một cái rổ. Những viên đá xù xì, không tròn trĩnh, để một rổ khác.

Bõ già tỏ ý hiểu:

– Thưa cụ, con biết rồi. Cụ lại sắp cho dọn một bữa rượu “Thạch lan hương”. Nhưng sao năm nay, lại soạn đá sớm quá? Thưa cụ, con nhớ mọi năm cứ hạ cây nêu xong rồi mới đem cuội ra ngâm kia mà…

– Thế bõ không thấy giời đổi gió nồm đấy à? Thế bõ không biết năm nay hoa nở sớm hơn mọi năm sao? Tôi đã cho ngâm thóc để lấy mầm nấu kẹo mạch nha từ mấy hôm nay rồi.

Bõ già gật gật…

Cụ Kép là người thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan. Cụ đã tới cái tuổi được hoàn toàn nhàn rỗi để dưỡng lấy tính tình. Vì bây giờ trong nhà cụ cũng đã thừa bát ăn. Xưa kia, cụ cũng muốn có một vườn cảnh để sớm chiều ra đấy tự tình. Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu giá trị tinh thần; nhưng nghĩ mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với hai bàn tay không có lợi khí mới, thì riêng lo cho thân thế, lo cho sự mất còn của mình cũng chưa xong, nói chi đến chuyện chơi hoa.

Cụ Kép thường nói với lớp bạn cũ rằng có một vườn hoa là một việc dễ dàng, những đủ thời giờ mà săn sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối đãi với giống hoa cỏ không bao giờ biết lên tiếng. Như thế mới phải đạo, cái đạo của người tài tử. Chứ còn cứ gây được lên một khoảnh vườn, khuân hoa cỏ các nơi về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đày chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay thì chơi hoa làm gì cho thêm tội.

Đến hồi gần đây, biết đã đủ tư cách chơi cây cảnh, cụ Kép mới gây lấy một vườn lan nho nhỏ. Giống lan gì cũng có một chậu. Tiểu kiều, Đại kiều, Nhất điểm, Loạn điểm, Yên tử v.v… Chỉ trừ có giống lan Bạch ngọc là không thấy trồng ở vườn. Không phải vì lan Bạch ngọc đắt giá mỗi giò mười đồng bạc, mà cụ Kép không trồng giống hoa này. Trong một buổi uống trà đêm, cụ Kép nói với một người bạn đến hỏi cụ về cách thức trồng cây vườn hoa:

– Tôi tự biết không chăm được lan Bạch ngọc. Công phu lắm, ông ạ. Gió mạnh là gẫy, nắng già một chút là héo, mưa nặng hột là nẫu cánh. Bạch ngọc thì đẹp lắm. Nhưng những giống nhẹ nhàng ấy thì yểu lắm. Chăm như chăm con mọn ấy. Chiều chuộng quá như con cầu tự. Lầm lỡ một chút là chúng đi ngay. Những vật quý ấy không ở lâu bền với người ta. Lan Bạch ngọc hay ưa hơi đàn bà. Trồng nó ở vườn các tiểu thư thì phải hơn.

Thiếu hẳn loài Bạch ngọc, cụ Kép đã cho trồng nhiều giống Mặc lan, Đông lan, Trần mộng. Giống này khỏe, đen hoa và rò đẫy, hoa có khi đậu được đến nửa tháng và trong mươi ngày, nếu chủ vườn có quên bón tưới, cũng không lụi.

Chiều hôm nay, hoa Mặc lan chớm nở.

Chiều mai, mùng một Tết, hoa Mặc lan mãn khai đầy vườn.

Đêm giao thừa, bên cạnh nồi bánh chưng sôi sình sịch, bõ già đang chăm chú canh nồi kẹo mạch nha. Cụ Kép dặn bõ già phải cẩn thận xem lửa kẻo lơ đễnh một chút là khê mất nồi kẹo.

Hai ông ấm, con trai cụ Kép, người lớn tuổi đứng đắn như thế, mà lại ngồi gần đấy, phất giấy vào những nan lồng. Thực là hai đứa trẻ con đang ngồi nghịch với lồng bàn giấy. Họ trịnh trọng ngồi dán hồ, vuốt giấy. Ông cụ Kép đứng kèm bên, mỗi lúc lại nhắc:

– Này Cả, thầy tưởng miệng lồng bàn, con nên đan to hơn miệng chậu. Con chạy ra, lấy cái que đo lại lợi chậu xem. Nếu rộng thì hỏng hết. Đo lợi chậu Mặc lan thôi.

Hai ông ấm, ngồi phất được đến mười cái lồng bàn giấy. Họ rất vui sướng vì họ tin đã làm toại được sở thích của cha già. Cụ Kép co ro chạy từ nồi mạch nha, qua đám lồng bàn giấy, đến cái rổ đá cuội đã ráo nước thì cụ ngồi xổm xuống, ngồi lựa lấy những viên đá thật trắng, thật tròn, để ra một mẹt riêng. Ông ấm cả, ông ấm hai lễ mễ bưng những chậu Mặc lan vào trong nhà. Cả ba ông con đều nhặt những hòn cuội xấu nhất, méo mó, xù xì trải xuống mặt đất những chậu lan gần nở. Mỗi lần có một người đụng mạnh vào rò lan đen, cụ Kép lại xuýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình.

Nồi kẹo đã nấu xong nhưng phải đợi đến gần cuối canh hai kẹo mới nguội.

Bây giờ thêm được bõ già đỡ một tay nữa, cả ba ông con đều lấy những hòn cuội để riêng ban nãy ra mẹt, đem dúng đá cuội vào nồi kẹo, quấn kẹo bọc kín lấy đá, được viên nào liền đem đặt luôn vào lồng chậu hoa. Những viên đá bọc kẹo được đặt nhẹ nhàng lên trên lượt đá lót lên nền đất chậu hoa.

úp xong lồng bàn giấy lên mười chậu Mặc lan thì vừa cúng giao thừa.

Ba ông con, khăn lượt áo thâm lạy trước bàn thờ đặt ngoài trời. Năm nay, trời giao thừa lành.

Cả một buổi sớm, cụ Kép phải bận ở đình làng. Trước khi ra đình cụ đã dặn bõ già ở nhà phải sửa soạn cho đủ để đến quá trưa, cụ và vài cụ nữa đi việc đình làng về sẽ cùng uống rượu thưởng hoa.

Bõ già đã bày ra giữa sân bốn cái đôn sứ Bát Tràng mầu xanh quan lục. Trước mặt mỗi đôn, bõ già đặt một án thư nhỏ, trên đó ngất nghểu hai chậu lan còn lù lù chiếc lồng bàn úp, và một hũ rượu da lươn lớn có nút lá chuối khô. Bõ già xếp đặt trông thạo lắm. Trong mấy năm nay, đầu mùa xuân nào bõ già cũng phải ít ra là một lần, bày biện bàn tiệc rượu Thạch lan hương như thế. Bõ già hôm nay lẩm bẩm phàn nàn với ông ấm hai:

– Năm nay cụ nhà uống rượu sớm quá và lại uống ban ngày. Mọi năm, cứ đúng rằm tháng giêng mới uống. Vả lại uống vào chiều tối. Đốt đèn lồng, treo ở  ngoài vườn, trông vào bữa rượu hoa, đẹp lắm cậu ạ.

Ông ấm hai vui chuyện, hỏi bõ già:

– Này bõ già, tôi tưởng uống rượu nhấm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha thì có thú vị gì. Chỉ thêm xót ruột.

– Chết, cậu đừng nói thế, cụ nghe thấy cụ mắng chết. Cậu không nên nói tới chữ xót ruột. Chính cụ nhà có giảng cho tôi nghe rằng những cụ sành uống rượu, trước khi vào bàn rượu không ăn uống gì cả. Các cụ thường uống vào lúc thanh tâm. Và trong lúc vui chén, tịnh không dùng những đồ nhắm mặn như thịt cá đâu. Mấy vò rượu này, là rượu tăm đấy. Cụ nhà ta quý nó hơn vàng. Khi rót rỏ ra ngoài một vài giọt, lúc khách về, cụ mắng đến phát thẹn lên. Cậu đậy nút lại không có rượu bay!

Phía ngoài cổng, có tiếng chó sủa vang.

Bõ già nhìn ra thấy bốn cụ tiến vào đã quá nửa lòng ngõ duối. Cụ nào cũng cầm một cây quạt thước, chống một chiếc gậy tre càng cua hay trúc đùi gà. Uống xong tuần nước, cụ Kép mời ba cụ ra sân uống rượu. Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một.

Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ và bõ già đánh hơi mũi: những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ vào khoảng không trong vắt như có ý theo dõi luồng hương thơm đang thấm nhập dần vào các lớp khí trời. Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian.

– Dạ, xin rước các cụ.

Dứt tiếng cụ Kép, tất cả bốn cụ đề úp lòng bàn tay vào nhau thi lễ và giơ tay chỉ thẳng vào giữa mời nhau ai cao tuổi xin nhắp chén trước đi. Tiệc rượu bắt đầu. Bõ già kính cẩn chắp tay đứng sau lưng chủ, có vẻ cũng thèm say lắm.

– Trời lạnh thêm chút nữa, uống Thạch lan hương mới đúng phép, chủ nhân ạ!

Đáp lời cụ Cử Lủ, cụ Kép vuốt râu cười nói:

– Chính thế. Nhưng đệ sợ chờ được lạnh đến, thì hoa vườn nhà tàn mất. Trông kẹo mạch nha không đông, còn dính vào lớp đá lót, đệ cũng biết là không được khéo lắm. Trời nồm biết làm thế nào.

– Này cụ Kép, kẹo đá thơm ngon đấy. Chỉ hiềm có mùi ung ủng pha vào hương lan. Chắc kẹo nấu bén nồi, khê và thêm không được đông nên mới có tạp vị nhiễm vào.

Sau mấy câu phê bình về tiệc rượu, tỏ ra mình là người biết thưởng thức những vị thanh lương đạm bạc, bốn cụ đều xoay câu chuyện sang phía thơ văn.

Cụ Tú người cùng làng với cụ Kép mở đầu câu chuyện làm thơ.

– Sớm nay, đệ đã khai bút rồi. Đệ nghĩ dược một đôi câu đối. Để các cụ chữa cho mấy chữ. Chiều nay sẽ viết luôn vào giấy hồng điều để xin phép dán thêm vào cổng nhà.

Ba cụ cùng cạn chén một lúc, cùng nói một lúc:

– Cụ Tú hãy cạn luôn ba chén rồi hãy đọc đôi câu đối mới. Câu đối của cụ còn ai mà hạch nổi chữ nào. Cụ nói gì mà khiêm tốn vậy… Chúng tôi xin nghe.

Chờ cụ Tú dặng hắng lấy giọng, mỗi cụ đều bỏ vào mồm những viên kẹo mạch nha đá cuội ướp hương lan. Những nhân đá đánh vào răng kêu lách cách. Mỗi ông già đọc một đôi câu đối.

Rồi chén rượu ngừng là một lời thơ ngâm trong trẻo. Cứ thế cho tàn hết buổi chiều.

Mấy cụ đều khen lẫn nhau là thơ hay. Trong cái êm ấm của buổi chiều xuân sớm, tiếng ngâm thơ quyến rũ cả đến tâm hồn một người lão bộc. Bõ già, chiều mồng một Tết tự nhiên mặt sáng tỏ hẳn lên. Cái đẹp của tiệc rượu ngâm thơ lây cả sang người bõ.

Vò rượu vợi với chiều xuân sớm quên đi.

Những vò rượu vợi dần. Trong lòng đĩa sứ đựng nhân đá, hòn cuội cao dần lên, bõ già đưa thêm mãi những đĩa sứ vào bàn rượu.

Từ phía đầu làng, dội về mấy tiếng pháo lẻ loi. Lũ cháu nhỏ, nấp sau cột nhà, muốn chạy ra xin bõ già phát cho chúng những hòn cuội đã nhắm rượu xong rồi kia.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những hủ tục bất công trong vòng đời người phụ nữ Việt Nam

Mai Thục

Trong hành trình tìm về cội rễ Việt, tiếp sức cho con người Việt Nam hiện đại, chúng ta luôn tỉnh thức để gạt ra những hủ tục bất công ăn sâu nơi đời sống cộng đồng.

Cuốn sách Những hủ tục bất công trong vòng đời người phụ nữ Việt Nam (NXB Thanh Niên-2010) của giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết, nhà nhân học xã hội, đóng góp tiếng nói quan trọng, nhằm giải phóng phụ nữ Việt Nam hiện đại.

Sách gồm bốn chương.

Chương I: Phẩm chất cao quí của phụ nữ Việt Nam. Người lao động, người mẹ, người vợ, người yêu, người chiến sĩ dũng cảm, người nghệ sĩ và nhà chính trị.

Chương II: Những khác biệt nam nữ về sinh học.

Chương III: Những bất công qua các giai đoạn cuộc đời người phụ nữ với những tư liệu, số liệu thống kê. Do những rào cản về nhận thức và hành động phân biệt đối xử, khiến phụ nữ trở thành nhóm yếu thế, một bộ phận bị gạt ra bên lề của sự phát triển trong cuộc sống xã hội hiện nay.

Chương IV: Các phong tục tập quán thuộc mọi lĩnh vực đời sống và gia đình hạ thấp nhân phẩm người phụ nữ. Đây là một chương viết hay và quan trọng. Tác giả sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu vòng đời “từ nôi đến mộ” để xem xét các phong tục tập quán lạc hậu đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người phụ nữ  từ quá khứ đến hiện đại.

PGS. TS Hoàng Bá Thịnh nhận xét: “Với những trang tư liệu điền dã của tác giả suốt cuộc đời nghiên cứu trên nhiều vùng quê khác nhau, người đọc như được xem một cuốn phim với những cảnh, tình tiết, cung bậc khác nhau trên một nền nhạc buồn, về những hủ tục tập quán lạc hậu đã và đang tồn tại trong xã hội Việt Nam truyền thống và hiện đại. Tư tưởng trọng nam khinh nữ là sợi chỉ xuyên suốt trong các phong tục, tập quán lạc hậu. Cuốn sách minh chứng cho ý tưởng của các nhà kinh điển Mác xít đại ý: Người chết đang níu áo những người sống…”

Giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết viết Lời tác giả: “Những hủ tục đang tồn tại trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện đại Việt nam với những hiện tượng phản văn hóa, phản khoa học, phản giáo dục, phi nhân bản, cho đến nay vẫn đang đè nặng, đang níu chặt lấy phụ nữ. Chúng tôi miêu tả dân tộc học các hủ tục làm cơ sở cho việc phê phán, phản biện, nhằm xóa bỏ những gì đang bất công với phụ nữ và cản trở bước tiến của xã hội Việt Nam. Nhằm giải phóng phụ nữ ra khỏi hủ tục, bảo vệ quyền con người của họ”.

Còn tôi, bất ngờ bởi cách viết của GS Lê Thị Nhâm Tuyết sinh động và sâu sắc như một tác phẩm văn chương.

Về truyền thống phụ nữ Việt Nam trong lịch sử, tác giả chỉ dẫn mấy câu trong bái phú “Nữ nhi cũng có một ngày bồng tang” của bà Trần Thị Phúc (kêu gọi phụ nữ chống thực dân Pháp) là quá đủ:

“Này nước, này non, này nhà, này cửa đã có bà đây, còn chờ ai nữa… Sánh những Bà Trưng thuở Hán, Hán thua. Kém chi Bà Triệu ngày xưa đuổi Ngô, Ngô cút… Bà đây, yêu nước, yêu nhà, cương thường một cột…” (Sđd trang 23)

Một trong những phẩm chất quan trọng hàng đầu của phụ nữ Việt Nam trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước là Bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc. Họ đã sáng tạo văn hóa và truyền cho con cháu từ hành động đến lời ru, dạy con làm người:

“Con đừng học thói chua ngoa

Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười”

Chưa kể những nghệ sĩ lớn như: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Lê Ngọc Hân, Huyền Trân công chúa… đã sáng tạo và truyền một dòng năng lượng văn hóa dân tộc, nặng Tình Mẹ Việt Nam.

Đặc biệt, chương IV, tác giả dẫn ta đi ngóc ngách các vùng miền dân tộc, hang cũng ngõ tối, rừng rậm, khe sâu… chứng kiến những hủ tục đang đè chặt thân hình phụ nữ từ lúc lọt lòng đến khi xuống mộ.

I . Giai đoạn chào đời:

Bé gái đã bị tục lệ nhốt gà làm nhục. Nhốt gà chờ vợ để con trai ăn mừng, đẻ con gái thì “bung cả đàn gà táo tác chạy vào rừng”. Đồng bằng Bắc bộ có “Lễ trao phần trai”. Sinh con trai là niềm vui của cả dòng họ: “Đinh tài hương vượng”, “Đinh đa gia thịnh” …

Hầu hết các dân tộc đều có tục “Ở rể đời”. Nhà nào không có con trai, nhà gái lấy rể về thờ cúng tổ tiên và được thừa kế gia sản của bố mẹ vợ.

Gia phả không ghi con gái “nữ nhân ngoại tộc”.

II. Tuổi trưởng thành:

Con gái được giao phó cai quản việc nhà, xó bếp và coi đó là chức phận cả cuộc đời:

Con gái rửa bát quét nhà, trông em, thổi cơm, nấu nước, tưới rau. Con trai không phải làm những “việc vặt” đó. Người Thái mẹ dạy con gái 9 tuổi, nhặt bông kéo sợi, dệt vải thêu khăn, dạy nấu các món ăn truyền thống. Nếu họ dạy luôn cả con trai những việc trên thì quá tốt. Nhưng con trai được trao sứ mệnh cao cả “Đọc sách ngâm thơ”, được đi học chữ. Con gái “Học chữ để viết thư cho giai”, nên không được đi học.

Các dân tộc Việt đều cho rằng trong xã hội, người con trai là chuẩn mực. Trong gia đình, con trai là trụ cột. Bố mẹ già sẽ ở với con trai. Con gái lấy chồng về nhà chồng, phục vụ nhà chồng, không nên cho đi học. Phí công tốn của.

Trong gia đình, họ giáo huấn: “Nam ngoại, nữ nội” “Nam nữ hữu biệt”, “Nam nữ bất đồng tịch”. Vị trí người phụ nữ là “Tam tòng tứ đức”, “Gái chính chuyên chỉ một chồng”, “Trai năm bảy vợ”…

Con gái được coi như nguồn lợi nhuận lao động:

“Ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng”.

Những tục kiêng kỵ, đẩy người phụ nữ vào cảnh giới bị khinh rẻ thường trực:

Kỳ kinh nguyệt không được xuống sông suối bắt cá, tắm giặt làm dơ bẩn đến các vị thần Hà Bá, Long Vương, Thuồng Luồng…

Sớm Mồng Một Tết Nguyên Đán, kiêng kỵ đàn bà con gái đến xông nhà, xông đất.

Ra ngõ kiêng gặp gái. Vía đàn bà xấu, mọi người đều tránh. Nó ăn sâu bám rễ vào đời sống hôm nay, đến mức chính người đàn bà ra ngõ đi xa, cũng tránh gặp người đầu tiên là đàn bà.

Đàn ông ăn cỗ, tiếp khách mâm trên, đàn bà con gái ăn ở bếp.

Tục bán con. Không bán con trai, bán gái đóng sưu. Cho cưới non. Cô dâu về lao động làm giàu cho nhà chồng. Đan Phượng- Hà Tây cũ cô Mực 10 tuổi bị đem bán về nhà cậu Trai 6 tuổi. 19 tuổi cô bị ruồng rẫy. Cậu Trai muốn cưới vợ khác. Cô Mực bỏ về nhà mẹ đẻ, phải trả lại 40 đồng (theo tục trả của) để được đi lấy chồng khác, sau chín năm đi ở không công. Hiện nay cô Mực gần sáu mươi tuổi. Lão Trai đã lấy ba vợ.

Tục tảo hôn. Tảo hôn giống tục bán con gái vì nghèo túng, nợ nần, tham giàu, tâm lý hư danh, đua đòi, mê tín…

Cha mẹ đính ước cho con khi còn trong bụng mẹ. Cảnh tảo hôn diễn ra đối chọi. Con gái bé lấy con trai bé. Con gái lớn lấy con trai bé. Con gái bé lấy đàn ông nhiều tuổi…

Làng Phương Bảng Hoài Đức- Hà Tây cũ là nơi tục tảo hôn khá nặng. Chú bé Đỗ Văn Cuộc 13 tuổi đã hai đời vợ (dĩ nhiên là còn tiếp diễn). Năm 1962 học lớp ba, gia đình cưới cô vợ 15 tuổi (UBND và Hội phụ nữ đã can thiệp, vận đọng hủy cuộc hôn nhân này nhưng gia đình vẫn cứ “cưới trộm”. Năm 1966, vợ Cuộc bỏ cậu đi lấy chồng. Gia đình lại “cưới trộm” cho Cuộc một cô vợ khác 18 tuổi. Cuộc 13 tuổi học lớp 5. Năm 1967, vợ này lại bỏ Cuộc đi khai hoang. Nguyên do chuyện này là nhà Cuộc thuộc loại khá giả, hiếm con, mẹ đi xem bói, phải lấy vợ cho Cuộc để khỏi bị chết non.

Làng Hạ Hội (Đan Phượng- Hà Tây cũ) có tục “gửi tã”

Dạm hỏi con từ lúc bé tý xíu. “Gả chồng bé coi như đắt chồng, lấy con dâu bé là nhà khá giả”. Tục lệ đã biến cô gái  tuổi Thiên Thần thành món hàng đổi trao, mua bán theo lợi ích cả người đàn ông gia trưởng.

Tục giấu nghề truyền thống đối với con gái. Gia chủ phải giấu con gái mình những bài thuốc quí, trị bệnh cứu người và giấu cả việc chế biến thức ăn. Con gái biết nghề sẽ mang về nhà chồng.

Làng cốm Vòng Hà Nội nổi tiếng vì làm cốm ngon, nhưng các cô gái không được dạy làm cốm, chỉ được giao cốm đem bán gánh dưới chiếc đòn gánh uốn cong móc câu hai đầu mà thôi.

Con gái bị coi là không có quyền hưởng tài sản thừa kế. Tuy nhiên bố mẹ cho phép cô được tích lũy vốn riêng. Ngoài việc lo việc ruộng nương, bếp núc, cô phải tự trồng bông dệt vải, may thêu khăn túi, váy áo, nuôi lợn gà tích lũy làm của hồi môn đi lấy chồng.

Con gái chỉ là người sống tạm ở nhà bố mẹ đẻ, nên không có chỗ ngủ nhất định, chẳng có buồng riêng như các anh em trai. Cô ngủ trên sàn nhà, ở phần trái nhà, khoảng giữa buồng của bố mẹ và buồng của con trai thứ, hoặc ở gian đầu, ở nửa dưới cạnh bếp.

Dân tộc ve, trong làng những thành viên nam 18 tuổi trở lên (đã trở thành chiến binh) mới được phép biết nơi cất và tham dự các buổi lễ liên quan đến vật thiêng của cộng đồng. Phụ nữ không được phép biết vì có thể đi lấy chồng làng khác. Họ sẽ tiết lộ bí mật của làng.

III. Giai đoạn lấy chồng:

Mục đích hôn nhân xưa là vì lợi ích gia đình. Người ta tìm kiếm về nhà mình người con gái có khả năng sinh sôi nảy nở để tạo ra những người thừa kế tài sản mới. “Lấy vợ kén tông, lấy chồng xem giống”.

Bởi thế nhiều tục lệ hà khắc buộc vào cô gái chưa chồng. Những cô chửa hoang thì “gọt đầu bôi vôi”, “Thả bè trôi sông”. Làng làm rùm beng, phạt vạ. Người Dao đưa con gái chửa hoang đến một vùng rừng riêng ngoài làng đến sau khi đẻ…

Làng Thị Cầu Bắc Ninh có tục thi cỗ do em gái làm cho anh đi thi. Anh nào được giải, người ta tìm đến hỏi cô em gái về làm dâu.

Dịp Tết, tục thổi cơm thi cũng để tìm các cô gái đảm. Bởi vậy, muốn con gái đắt chồng, các bà mẹ phải dạy con thêu thùa may vá, thổi cơm ngay từ khi 9 tuổi…

Tiêu chuẩn kén dâu do các cụ chọn. Về tinh thần phải đạt “tam tòng tứ đức”. Tam tòng là ở nhà con gái phải theo cha. Lấy chồng phải theo chồng. Chồng chết theo con trai. Tứ đức là “Công dung ngôn hạnh”.

Về hình thức phải có khả năng sinh con đẻ cái “lưng chữ gụ, vú chữ tâm” mắn đẻ.

Vì chọn mua, gả bán như vậy nên những nhà giàu lo cưới vợ chọn vợ rất sớm cho con trai, ép duyên, trai gái không có quyền lựa chọn nhau, xảy ra chuyện:

Buồn tình em bế thằng bé nó lên

Nó còn bé mọn đã nên cơm cháo gì

Nó ngủ nó ngáy khì khì

Một giấc đến sáng còn gì là xuân

Những tiếng kêu tuyệt vọng của cô gái muộn chồng:

Còn duyên đóng cửa kén chồng

Hết duyên mở cửa gọi ông ăn mày

Tôi van ông ông rẽ vào đây

Giường chiếu sạch sẽ, gối mây ông nằm

Duyên tôi xưa đáng một trăm

Bây giờ ế ẩm xin ông năm hào

Dân tộc Hơ Mông có tục kéo vợ. Người con trai yêu cô gái, không cần biết cô có yêu mình không, rủ bạn trai đi bắt cô về nhà mình. Có trượng hợp cô gái bị kéo về để trừ nợ cho bố mẹ nghèo nợ nhà thống lý. Nhưng cô  chỉ là vợ lẽ, người hầu.

Tính chất mua bán của hôn nhân thể hiện qua tục lệ đám cưới. Thách cưới cao, thu lại vật chất và biểu thị giá trị cô gái. Làng Cát Ngời Hoài Đức- Hà Tây cũ một nhà gả con thách cưới đơn giản bị làng chê “Không bằng bán một con chó giống”.

Thách cưới, người Thái, người Xinh Mun gọi là tiền trả công nuôi dưỡng bú mớm. Nhà trai phải trả cho nhà gái số tiền lớn, hàng trăm đồng bạc trắng.

Lễ nghi cưới các dân tộc đều phải lần lượt qua: lễ dạm hỏi, lễ mừng, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức, lễ lại gói.

Làng xóm nhân cơ hội đám cưới cũng tranh thủ vui vẻ bày các tục: “nộp tiền qua cầu”, “chăng dây giữa đường”, “tiền mở cổng” nhà cô dâu, “nộp cheo” cho làng, “nộp gạch lát đường”…

Thách cưới sinh khốn khổ cho nhà trai “tậu trâu, cưới vợ, làm nhà”. Làng Hạ Hội, Đan Hội, Hạnh Đàn, Ngọc Kiệu (Đan Phượng- Hà Tây cũ) có tục cưới chịu. Nhà gái thách cưới ba phần, nhà trai chỉ đưa đến một phần, còn thì xin chịu. Cô dâu không về ở nhà chồng ngay khi cưới, bao giờ trả đủ tiền mới về. Hôm cưới vẫn đón dâu, cô dâu ngủ lại nhà chồng một đêm, nhưng ngủ với bạn gái.

Phần lớn đám cưới phải mất ba ngày. Dựng rạp, đón dâu, đưa dâu, thu dọn. Gia chủ chuẩn bị sẵn đồ ăn, thức uống, giao phó cho người đến giúp. Cỗ bàn bày la liệt. Dân làng, khách xa đến ăn tưng bừng. Có người sáng ăn, đi làm đồng về lại ăn, tối ăn, đám cưới bốn trăm mâm cỗ và không biết bao nhiêu công sức mọi người. Năm 1972, một đám cưới ở làng Kem xã Việt Yên đã ăn hết một con bò, 13 con lợn, 20 nồi gạo, 200 kg mì gạo, 200 kg đậu phụ, 200 lít rượu, 10 kg thuốc lá  sợi và hàng chục tút thuốc bao, đốt hàng trăm bánh pháo, chè lạng, chè gói nhiều vô kể.

Hậu quả khi đám cưới mua bán đã xong, cô dâu thành con người ta. Người chủ nhà tận dụng con dâu làm giàu cho mình. Người cô dâu phải chịu trận là mẹ chồng:

“Tuổi em hai tám tuổi đầu

Cha mẹ đã định làm dâu nhà người

Nói ra sợ chúng bạn cười

Năm ba trận chửi, chín mười trận đay

Việc làm chẳng kịp trở tay

Mẹ chồng mắng mỏ, la rầy gay go

Cơm ăn trong bụng chẳng no

Tấm quần, tấm áo không cho mặc lành

Đêm thì thức đủ năm canh

Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò”

Người đáng sợ thứ hai là em gái chồng. “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”.

“Em chồng ở với chị dâu

Coi chừng kẻo nó giết nhau có ngày”

Dù rơi vào thảm cảnh, con gái đã về làm dâu nhà người, thì phải theo họ. Sống làm người nhà chồng. Chết làm ma nhà chồng. Cô dâu không được về nhà mình. Người chồng yêu vợ lắm thì dặn:

Từ khi em về làm dâu

Thì anh dặn bảo trước sau mọi lời

Mẹ già dữ lắm em ơi!

Nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn lời mẹ cha

Phong tục người La Chí không cho phép con dâu bước vào gian đặt bàn thờ của bố mẹ, nơi ngủ của bố mẹ. Người La Hủ không cho phép con dâu chải tóc trước mặt bố chồng, anh chồng. Người Dao Quần Chẹt không cho bố chồng, anh chồng, con dâu ăn cùng mâm…

Chế độ đa thê dày đạp thân phận phụ nữ “Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”. Luật nhà Lê thừa nhận chồng lấy nhiều vợ. Tuy vậy khi người chồng bị bệnh bất lực, hai vợ chồng bàn nhau mời một bạn quen tốt giống “giúp đỡ” vợ mình. Họ giữ kín nhưng phải kính báo gia tiên, có con thì lễ tạ.

Không thể chịu nổi cuộc sống nghiệt ngã ở nhà chồng. Cô dâu chỉ còn cách trở về nhà mẹ đẻ. Nhưng họ gặp thành kiến nặng nề “Nứa trôi sông, gái bỏ chồng”. Cha mẹ vợ chịu tiếng đau đớn, tìm mọi cách đuổi con về nhà chồng để yên chuyện.

Xã Mai Phong ( Hiệp Hòa- Bắc Ninh), ông Thể có con là Ngọ, gả chồng năm 11 tuổi. Lớn lên, Ngọ chê chồng, nhiều lần bỏ về nhà mẹ đẻ, nhưng đều bị xua về nhà chồng.

Nửa đêm ngày Mồng Một Tết, Ngọ trốn lên Thái Nguyên. Ông Thể tìm bắt được con mang về. Lập bàn thờ giữa sân, mài con dao thật sắc, ông Thể mời thông gia và rể tới, gọi con gái ra, chỉ vào mặt nói: “Con này tôi gả bán cho nhà người rồi, nếu nó không nghe mà cưỡng lại, nếu tôi không dạy được nó, thì đây, có tổ tiên chứng giám, từ nay tôi không có đứa con bất hiếu này nữa, tôi chém chết nó, rồi lập tức cưới cho rể tôi một vợ khác.”

Tuy nhiên cũng có cha mẹ thương con gái rứt ruột của mình, ôm nó vào lòng, cứu nó thoát khỏi địa ngục trần gian. Song họ bị tục trả của vì đã thách cưới quá nhiều. Ngoài ra thủ tục ly hôn phức tạp, kéo dài, cũng gây hậu quả đáng buồn.

Cô dâu chê chồng còn bị lệ làng vây bủa. Làng Phương Bảng (Hoài Đức- Hà Tây cũ) và nhiều nơi có “Hội Chiêm”. Vào đêm rằm tháng Tám có lệ làng lùng bắt các cô dâu chê chồng. Tuần phiên và trai làng tổ chức lùng sục nhà mẹ đẻ các cô. Có người rúc vào đống rơm, đống rạ cũng bị lôi ra. Có người nằm ép vào hòm, bị khiêng cả hòm đi. Họ lục vào các nhà, sục vào buồng, nhìn các xó xỉnh, chui vào gầm giường, trèo lên cót thóc bắt các cô điệu về nhà chồng. Vừa đi họ vừa cấu chí, đánh đấm đạp.

Các cô bị quẳng về nhà chồng, van lạy họ không tha. Nếu nhà chồng nhận lại thì xong, gặp bà mẹ chồng ác nghiệt trả lời: “Chúng tôi không dám” thì các cô bị giong về nhà mẹ đẻ, bị cấu xé nhục nhã. Gọi là “Hội Chiêm” vì người xem chen nhau đông như hội, kéo dài từ mùa trăng tháng Tám đến khi nào lùng hết, hỏi tội, trói bắt, đánh roi mây hết lượt các cô chê chồng mới chấm dứt.

Nếu hai vợ chồng chưa có con thì của cải tính theo nguyên tắc “Trai chê trai bỏ, gái chê gái đền”. Con gái chê chồng, nhà trai bắt đền nhà gái lễ seo, lễ Tết. Cha mẹ chứa con gái lộn chồng bị xã hội lên án. Cô gái không được coi là thành viên của gia đình, phải ở riêng, chết không được chôn trong bãi mộ chung của làng.

IV. Phong tục tập quán khi làm mẹ:

Vượt cửa ải quan hệ với nhà chồng, cô dâu làm mẹ. “Gái một con trông mòn con mắt”. Nhưng nàng đẻ liên tục nên:

“Gái hai con vú sệ ngang lưng

Ba con cổ ngẵng răng vàng

Bốn con quần áo đi ngang khét mù

Năm con tóc rối tổ cu

Sáu con yếm trụt váy dù vận ngang”

Mang thai, người mẹ phải kiêng cữ ngặt nghèo. Không được bước qua trạc buộc trâu bò. Không ngồi lệch. Không giết gà. Ăn kiêng ốc, hến, thịt thỏ, thịt ngỗng, cá…

Sinh nở nàng bị kiêng cấm nhiều hơn. Làm lều ra vườn đẻ, hoặc kín trong buồng tối. Nằm trên than củi đốt để trừ tà. Chỉ ăn cơm muối nướng. Cách ly mọi người sợ vía xấu…

V. Phong tục tập quán khi người phụ nữ trung niên và cao tuổi:

Khi chồng chết, vợ thờ ba năm mới tái giá. Trước khi tái giá phải lễ tạ chồng cũ, khấn phù hộ. Nếu cha mẹ chồng vẫn còn thì phải đem trầu rượu đến lạy tạ và xin phép được đi bước nữa. Khi tái giá không được mang bất kỳ tài sản gì của nhà chồng. Con cái phải để lại nhà chồng.

Các dân tộc thiểu số có tục nối dây. Chồng chết vợ có thể lấy một trong số anh em của chồng. Ngược lại vợ chết chồng có thể lấy em gái vợ.

Tục lệ gái góa lấy chồng gặp nhiều rắc rối hơn đàn ông góa lấy vợ, làm cho người nữ góa rất ít cơ hội lấy chồng mới.

Người phụ nữ cao tuổi bị gạt ra khỏi các lệ làng chỉ dọn dẹp mua sắm chạy lăng xăng. Thọ hưởng cỗ cúng là nam lão. Trong gia đình đàn ông được cúng tế và quyết định việc nhà. Quyền thừa kế tài sản thuộc các con trai. Đàn bà cao tuổi được kính trọng nhưng không có quyền gì.

VI. Kết luận:

Khẳng định nền văn hóa Việt Nam chứa đựng đậm đà bản tính nhân đạo, nhân ái. “Thương người như thể thương thân”. Không lẽ lại để các hủ tục trên trở thành xiềng xích, giam cầm, kìm hãm, thậm chí giết hại (bằng cả nghĩa đen của từ này) người phụ nữ và truyền thống nhân văn đó. Do vậy tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết nhấn mạnh:

“Cần quét sạch ảnh hưởng tàn dư của chủ nghĩa chuyên chế về mặt văn hóa- chính trị tư tưởng trong quan hệ người với người ảnh hưởng đạo tam cương, ngũ thường đã chi phối người phụ nữ “Vua- cha- chồng”. Vua là giềng mối của bề tôi thì bề tôi phụ thuộc vào vua mà không có nhân cách độc lập tự chủ. Chồng là giềng mối của vợ thì vợ phụ thuộc vào chồng mà không có nhân cách độc lập tự chủ… đúng là “Trai gái dưới gầm trời này làm tôi, làm con, làm vợ, không ai độc lập tự chủ!”(Sđd tr. 137)

Tác giả kêu gọi chân thành thống thiết:

“Chẳng lẽ đến nay, xã hội Việt Nam và văn hóa nhân loại lại tiếp thu hoàn toàn bị động những hủ tục tồn tại từ ngày xưa, thống trị con người từ nôi sinh đến mộ mãi sao? Chẳng nhẽ cứ để quan niệm sai lầm và lỗi thời là các hủ tục cứ tồn tại, đóng vai trò xiềng xích trong nếp sống, lối sống, trong tâm lý của gần như mọi tầng lớp xã hội? Chẳng lẽ cứ để các hủ tục hạ thấp phụ nữ, những hủ tục tác hại đến sức khỏe vật chất và tinh thần của phụ nữ, gây kìm hãm tất cả mọi chính sách về phát triển kinh tế xã hội của đất nước sao?

Phải công bằng giới. Muốn nói đến công bằng giới phải công bằng xã hội. Công bằng xã hội là một phạm trù nhân quyền. Một quyền cơ bản với mọi con người, mọi công dân.

Công bằng xã hội mang nguyên tắc bảo đảm để mọi người được cống hiến cho xã hội và đồng thời bảo đảm để họ được nhận lại, được hưởng thụ đúng và tương xứng với những gì mà họ đã cống hiến.

Công bằng Giới. Giới là thuật ngữ mang tính xã hội, đề cập đến sự khác biệt giữa nam và nữ do xã hội qui định. Còn giới tính là một thuật ngữ sinh học, đề cập đến khác biệt sinh lý giữa nam và nữ. Nó không thể thay đổi.

Mối quan hệ giới bình đẳng hoặc Công bằng giới là mối quan hệ vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội.

Bình đẳng giới được xác định là phụ nữ và nam giới phải có vị trí ngang nhau trong xã hội, được có quyền ngang nhau, hưởng thụ bằng nhau trong xã hội.

Công bằng giới là phụ nữ và nam giới phải được đối xử công bằng trong sự nhìn nhận khác biệt giữa nam và nữ”.

(Sđd tr.140).

Là người quan tâm nghiên cứu về phong tục tập quán từ rất sớm, G.S Lê Thị Nhâm Tuyết đã đặc biệt chú ý đến những tập tục lạc hậu liên quan đến phụ nữ, những người vốn chịu nhiều thiệt thòi, bất công trong gia đình và ngoài xã hội. Cuốn sách Những hủ tục bất công trong vòng đời người phụ nữ Việt Nam là một đóng góp lớn của G.S Lê Thị Nhâm Tuyết- nhà khoa học hàng đầu nghiên cứu về phụ nữ, nghiên cứu về giới suốt nửa thế kỷ qua.

Hà Nội- Tháng 1-2010

https://vanhacyb.wordpress.com/2010/01/17/nhung-hu-tuc-bat-cong-trong-vong-doi-nguoi-phu-nu-viet-nam/

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tham nhũng trong công tác cán bộ

Kiểm soát quyền lực để chống chạy chức chạy quyền

Tổng Bí thư Trọng cho rằng “đội ngũ cán bộ của ta hiện nay đông nhưng chưa thật mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ vẫn xảy ra ở nhiều nơi” và “thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực”.

“Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp cao, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, phẩm chất, năng lực… vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, luật pháp, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát lớn vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật.

“Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ khoá XII đến nay, Ban chấp hành Trung ương (BCH TƯ), Bộ Chính trị, Ban Bí thư, UB Kiểm tra TƯ đã phải thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện TƯ quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự,” Tổng bí thư Trọng viết. “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy phiếu bầu, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội…làm việc gì, giữ chức vụ gì cũng chỉ tính đến lợi quyền, bổng lộc cho cá nhân mình, gia đình mình trước nhất, quên cả thanh liêm, danh dự.”

Ông Trọng đề cập tới thời điểm chuyển giao thế hệ cũ và mới với lớp mới được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có “thể chế chính trị khác nhau”.

Nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh về điều ông gọi là “những biểu hiện đáng lo ngại” về “tình hình tư tưởng trong Đảng và tâm trạng trong nhân dân” theo đó “tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức mới chỉ bước đầu được ngăn chặn, đẩy lùi”.



Vấn đề đặt ra là tại sao ý tưởng về kiểm soát quyền lực đã được đưa ra từ năm 2014, tức trước Đại hội XII, nhưng mãi tới nay, quy định này mới ra đời?

TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam độc lập, trả lời phỏng vấn BBC News Tiếng Việt hôm 25/9, nêu ý kiến riêng rằng Hội nghị Trung ương 11 sắp tới sẽ đưa ra danh sách đầu tiên các Ủy viên Bộ chính trị. Bởi vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực chắc chắn sẽ gắn chặt với hội nghị này.

“Tuy nhiên, tôi e rằng nó sẽ gắn chủ yếu với vấn đề thanh trừng phe phái nhiều hơn là để làm trong sạch Đảng,” ông Dũng nói.

TS. Phạm Chí Dũng lý giải ý kiến trên bằng việc trở lại với thời điểm trước Đại hội XII:

“Năm 2014, 2015 là thời gian xảy ra cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt giữa hai phe là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng. Trong đó, phe Nguyễn Phú Trọng muốn nắm vấn đề kiểm soát quyền lực để không để cho ông Nguyễn Tấn Dũng khuynh đảo vì lúc đó, thế của Nguyễn Tấn Dũng rất mạnh.

Đại hội XII kết thúc, ông Nguyễn Tấn Dũng bị loại ra khỏi vũ đài chính trị, ông Trọng độc tôn. Vấn đề kiểm soát quyền lực không được đặt ra nữa, dẫu cho càng ngày vấn đề kiểm soát quyền lực càng trở nên cấp thiết hơn, bởi sự cát cứ của chính quyền các địa phương, rồi ở các bộ, ngành ngày càng nổi lên, nhất là trong năm 2017.”

Như vậy, “việc đưa ra quy định kiểm soát quyền lực không phải là vì cái chung để làm cho Đảng tốt hơn lên, mà chỉ để phục vụ cho những ý đồ cá nhân, mục đích cá nhân và đạt được quyền lực cá nhân trong các cuộc đấu đá phe phái,” ông Dũng nói.

Tuy nhiên, GS Carl Thayer, Giáo sư danh sự của Đại học New South Wales tại Học viện Quốc phòng Úc ở Canberra, thì nhận xét với BBC News Tiếng Việt qua thư điện tử hôm 26/9 rằng:

“Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn thực hiện một cách nhất quán và có phương pháp chiến lược, nhằm xây dựng được một đội ngũ cán bộ nòng cốt không dính đến tham nhũng sau Đại hội đảng thứ XIII, dự kiến sẽ tổ chức vào quý 1 năm 2021.

Chẳng hạn, trước đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Quy định về những điều đảng viên không được làm. Quyết định 205 lần này được đưa ra cũng với mục tiêu hạn chế, nếu không nói là chấm dứt một thực tế khá phổ biến trong việc chạy chức, chạy quyền.”

“Việc làm trong sạch đội ngũ cán bộ trước đại hội đảng toàn quốc như hướng đi hiện nay của ông Trọng thực ra là thông lệ tại Việt Nam. Nhưng chiến dịch của Tổng bí thư Trọng lại kỹ lưỡng hơn, thể hiện qua số các văn bản, quy định nhằm điều chỉnh các tiêu chuẩn đạo đức, cũng như số lượng các quan chức bị kỷ luật thời gian qua'” GS Carl Thayer nói.

Ông cho biết tiếp:

“Hiện tôi chưa thấy có dữ liệu nào cho thấy, việc ban hành Quy định 205 là do các hành vi vi phạm gia tăng một cách bất thường thời gian gần đây hay không. Thời điểm ban hành Quy định có thể là do có những thiếu sót đã được xác định và đòi hỏi phải có biện pháp chấn chỉnh.”

Bài 1: Tham nhũng trong công tác cán bộ

HOÀNG MAI

Ngày 23/9, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 205-QĐ/TƯ về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Quy định ra đời được kỳ vọng sẽ đưa công tác cán bộ của Đảng đi đúng hướng, góp phần vào công cuộc xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền vững mạnh. Từ số báo này, báo Đại Đoàn Kết đăng loạt bài về kiểm soát quyền lực trong thực tiễn hoạt động hiện nay.

Trong một cuộc tiếp xúc cử tri của đơn vị bầu cử số 1, TP Hà Nội, cử tri Trần Viết Hoàn (quận Ba Đình) đã thẳng thắn nêu quan điểm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: Việc thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch vẫn còn đau đáu với công tác chỉnh đốn đảng, công tác tổ chức cán bộ. Trong đó, ông Trần Viết Hoàn nêu tình trạng vẫn còn cán bộ lo chạy chức, chạy quyền, chạy tội; việc cất nhắc cán bộ có nơi chỉ chăm chăm vào “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ” còn “trí tuệ” được chú ý sau cùng.

Lạm dụng quyền lực để thỏa mãn lợi ích cá nhân

Điều mà cử tri phản ánh thì chính Trung ương cũng đã nhìn ra và nhận định rõ trong các Nghị quyết. Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 30 năm qua đã đưa đất nước ta đến nhiều kết quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển đất nước. Nhưng, cũng chính trong quá trình phát triển ấy, bên cạnh những yếu tố tích cực đã có không ít mặt trái được bộc lộ. Trong đó, thấy rõ, sự xuất hiện của một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, lạm dụng quyền lực để thỏa mãn lợi ích của cá nhân. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này đã được nêu rất rõ trong Nghị quyết số 18-NQ/TƯ (Hội nghị 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII), là do: “Cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chưa cao; việc công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế”.

Nguyên nhân của nguyên nhân có lẽ chính là do cơ chế kiểm soát quyền lực ở ta chưa được tối ưu hóa; khiến cho một số người lợi dụng khe hở của pháp luật để “chạy chức, chạy quyền” và cũng để ban phát quyền lực cho một người hay một nhóm người nào đó nhằm mưu cầu lợi riêng. Theo đánh giá từ Ban Tổ chức Trung ương: Công tác đánh giá cán bộ, đảng viên ở nhiều nơi vẫn xuê xoa, không thực chất. Một số cán bộ suy thoái, năng lực yếu vẫn được đánh giá, nhận xét tốt, xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thậm chí được khen thưởng, được cất nhắc, bổ nhiệm. Điều đó chắc chắn đang hiện hữu trong xã hội, dù không phải quá phổ biến nhưng nó xuất hiện đủ để nhân dân và cử tri thấy rõ.

Muôn kiểu “chạy”

Theo cơ quan quản lý cán bộ của Đảng, chạy chức, chạy quyền có đất “diễn” là bởi có chuyện lạm dụng quyền lực, tạo điều kiện cho đối tượng chạy vào quy hoạch không đúng quy trình; hay điều động, luân chuyển cán bộ trong khi biết rõ không đáp ứng được phẩm chất, tiêu chuẩn, như câu chuyện của Ban cán sự Đảng Bộ Công thương nhiệm kỳ 2011-2016 đã có báo cáo không trung thực về tình hình hoạt động của PVC và cá nhân Trịnh Xuân Thanh trước khi cấp có thẩm quyền phê chuẩn chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang. Cũng vụ việc này, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang Huỳnh Minh Chắc cũng đã bị kỷ luật vì “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy trình, quy định về công tác cán bộ và quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh trong việc đề nghị, tiếp nhận Trịnh Xuân Thanh từ Bộ Công thương về tỉnh Hậu Giang để giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh”.

Cũng lại có kiểu chạy bằng việc lợi dụng điều động, luân chuyển để bố trí người cùng nhóm lợi ích hoặc bổ nhiệm không đảm bảo tiêu chuẩn như ở Gia Lai trong giai đoạn từ ngày 1/12/2014 đến ngày 31/3/2017 có 283 công chức lãnh đạo, quản lý bổ nhiệm chưa đáp ứng điều kiện tiêu chuẩn. Còn tại Sóc Trăng trong giai đoạn từ năm 2014 đến hết tháng 2 năm 2017 có 108/550 hồ sơ khi bổ nhiệm không đáp ứng được một hoặc một số tiêu chuẩn theo quy định. Cũng có tình trạng bổ nhiệm thần tốc, bổ nhiệm thừa, bổ nhiệm người thân, người nhà dẫn đến lộng quyền, lạm quyền gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Ngăn tình trạng “chạy”

Thực tế những mặt trái, những lỗ hổng pháp lý dẫn đến một số quy chế, quy trình trong công tác cán bộ chưa đồng bộ, chặt chẽ khiến người có quyền trong tham mưu cũng như trong bổ nhiệm cán bộ có thể lợi dụng để trục lợi, Đảng ta đã nhìn thấy, nhân dân cũng nhận biết rõ. Để chấn chỉnh công tác cán bộ, đặc biệt là việc điều động, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ, thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều quy chế, quy định nhằm siết chặt, không tạo kẽ hở cho công tác này.

Kết quả cho những nỗ lực vừa qua trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng nói chung và phòng, chống tham nhũng trong công tác cán bộ nói riêng khiến cử tri rất phấn khởi khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nêu quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân quyết chống giặc nội xâm. Tuy nhiên, cử tri Trần Viết Hoàn vẫn băn khoăn: “Hiện nay, Đảng đang tích cực chuẩn bị cho công tác nhân sự cho Đại hội Đảng khóa XIII, dân mong Đảng tìm được những người đủ đức đủ tài, những người không mắc căn bệnh chủ nghĩa cá nhân để gánh vác công việc. Để tìm được những người như thế, dân mong Đảng cần rút ra những bài học đau xót khi để “lọt” vào hàng ngũ lãnh đạo những kẻ nhúng chàm.”

Những hạn chế khuyết điểm ấy không những làm suy giảm niềm tin vào công tác cản bộ, mà còn gây ra nhiều hệ lụy khôn lường. Nó khiến cho một bộ phận cán bộ công chức, kém tài, yếu đức trèo cao, chui sâu vào trong hệ thống và cùng nhau cấu kết với những cán bộ công chức hư hỏng khác lũng đoạn không chỉ trong công tác cán bộ mà còn cả trong công tác quản lý kinh tế, gây thất thoát tiền, tài sản của Nhà nước thông qua tham nhũng. Điều nguy hại hơn là sự cấu kết của bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa biến chất ấy đã khiến người tài đức thui chột ý chí phấn đấu; khiến đảng viên và nhân dân bất bình, lo lắng. Đây được Đảng xem là một nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

Thực tiễn của công tác cán bộ thời gian vừa qua cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực thì rõ ràng, kiểm soát quyền lực gắn với chống chạy chức, chạy quyền vẫn là một việc còn yếu. Vì vậy, đã đến lúc cần  xây dựng, hoàn thiện cơ chế để có thể kiểm soát quyền lực, chống chạy chức chạy quyền một cách hiệu quả, góp phần đưa công tác cán bộ của Đảng đi đúng định hướng trong các Nghị quyết của Đảng, từng bước hướng tới 4 không: “Không thể chạy, không dám chạy, không cần chạy, không muốn chạy”.        

(

Bài 2: Lợi ích nhóm trong chạy chức, chạy quyền

HOÀI VŨ07:40 24/10/2019

Tình trạng lợi ích nhóm, chạy chức chạy quyền được coi là “tham nhũng trong công tác cán bộ”, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho tham nhũng trở thành con đường tiến thân của những kẻ cơ hội. Lợi ích nhóm liên kết lại trở thành sức mạnh để lũng đoạn bộ máy nhà nước, là nguy cơ lớn cho sự phát triển công bằng và lành mạnh.

Đã rất nghiêm trọng

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) đã thẳng thắn chỉ ra: Tình trạng chạy chức chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” gây bức xúc trong dư luận xã hội.Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 đã xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2020.

Theo đó, sẽ thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên; Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt đã nhiều lần, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã chỉ đạo: “Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy khoá mới những người có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm”.

Chạy chức, chạy quyền đã để lại những hệ lụy tiêu cực về kinh tế, chính trị, xã hội vô cùng nặng nề. Chưa kể chạy chức, chạy quyền là cơ hội cho những phần tử xấu vi phạm kỷ luật vẫn chui sâu leo cao vào bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội. Cụ thể như ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2003-2014, bà Phan Thị Mỹ Thanh mắc nhiều khuyết điểm “rất nghiêm trọng và có tính hệ thống”. Nhưng cũng trong thời gian đó, bà Thanh liên tục thăng tiến, từ Giám đốc Sở Công thương Đồng Nai, Bí thư Huyện uỷ huyện Nhơn Trạch (năm 2009), Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai (năm 2011), Phó Bí thư Tỉnh ủy (nhiệm kỳ 2015-2020); được giới thiệu bầu làm ĐBQH và làm Trưởng đoàn ĐBQH Khoá XIV của tỉnh Đồng Nai. Bà Thanh đã bị kỷ luật bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng.

Cả họ làm quan

Mặt trái của chạy chức, chạy quyền không chỉ đưa “cánh hẩu” của mình vào bộ máy mà còn việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn đưa người nhà vào bộ máy, để cả “nhà làm quan”, cả “họ làm quan”, hay “chính trị hóa gia đình”. Thực tế đó đã “lộ sáng” tại tỉnh Hà Giang, huyện Mỹ Đức (Hà Nội), huyện Quảng Trạch (Quảng Bình), huyện An Dương (Hải Phòng)… Tình trạng này dẫn đến quyền lực chính trị, kinh tế của địa phương bị một gia đình hoặc một dòng họ thao túng, chi phối.

Từ tình trạng cả họ làm quan tại một số địa phương, nói với Đại Đoàn Kết, ông Phạm Văn Hòa- Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội cho rằng: Thực tiễn đã xảy ra việc cả “họ làm quan”. Hiện nay ta làm quy hoạch đã chuẩn xác nhưng về “bổ sung quy hoạch” thì thời điểm nào, lúc nào cũng có thể bổ sung được. Trong nhiệm kỳ đã làm quy hoạch A1, A2, A3 nhưng cuối nhiệm kỳ cũng làm quy hoạch để “bổ sung quy hoạch”. Cho nên cả “nhà làm quan” là do quy hoạch cuối đưa vào chứ còn quy hoạch trước đó không có. Vì bổ sung quy hoạch không ai bắt lỗi được và đó là sở hở nên trong thời gian qua dẫn đến tình trạng cả nhà làm quan từ trên xuống dưới. “Vì nể nang người đứng đầu nên người làm công tác cán bộ có phần ngại, không dám “va chạm” nên đành đưa vào quy hoạch để trình lên. Khi đưa ra Ban Thường vụ quyết, nhiều khi thấy anh A, chị B chưa được nhưng vì ngại và sợ nên cũng đành đồng ý nên dẫn đến tình trạng cả nhà làm quan”- ông Hòa nói. Từ đó ông Hòa cho rằng, để không còn tình trạng “cả nhà làm quan” cần tổ chức thi tuyển lãnh đạo. Như vậy sẽ tạo sự công bằng khách quan và hợp lý.

Còn, PGS.TS Lê Quốc Lý- Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thì cho rằng: Cần nghiêm túc trong luân chuyển cán bộ, kỷ luật Đảng phải nghiêm. Chúng ta đã nói người đứng đầu không phải người địa phương thì Đảng phải thực hiện nghiêm, thí điểm 5 vị trí người đứng đầu không phải người địa phương cần làm tích cực và mạnh mẽ hơn nữa. Chứ bây giờ nhiều nơi vẫn đề bạt người địa phương, từ Bí thư cho đến các cấp thấp hơn. Trước đây, đỗ cử nhân còn được điều đi khắp mọi nơi vậy tại sao trong chế độ ta, cán bộ  vì dân vì nước mà cứ sợ khó sợ khổ, ai cũng chọn nơi có lợi cho mình? Cho nên phải có kỷ luật thật nghiêm, khi điều động đi địa phương, ai xin ở lại là cho nghỉ luôn chứ đừng để tình trạng xin ở lại lại được chỗ “ngon” hơn. 

Bài cuối: Giải pháp để Quy định 205 đi vào cuộc sống

HOÀI VŨ07:40 25/10/2019

Chạy chức, chạy quyền đã được nhận diện và cần phải ngăn chặn. Vừa qua Bộ Chính trị ban hành Quy định 205-QĐ/TƯ (Quy định 205) về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền để không thể chạy, không dám chạy, không cần chạy và không muốn chạy. Nhưng để Quy định 205 đi vào cuộc sống rất cần thực hiện nhiều nhóm giải pháp, trong đó đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu chính là giải pháp cốt lõi trong ngăn ngừa, ngăn chặn tình trạng chạy.

Sự nêu gương của người đứng đầu

Trao đổi với Đại đoàn kết, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cho rằng: Trước kia các văn bản thường mang tính định tính nhưng lần này Quy định 205 đã đi vào định lượng, tức là nhận diện các hành vi. Theo đó, giống như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã đưa ra nhận diện về 27 biểu hiện, thì lần này Quy định 205 đã chỉ rõ những biểu hiện của chạy chức, chạy quyền, và cần kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Đây là bước phát triển đáng mừng. Tuy nhiên để Quy định 205 đi vào cuộc sống, theo ông Phúc, các cấp ủy, tổ chức Đảng và người trực tiếp làm công tác cán bộ là các cơ quan tổ chức đề cao tinh thần trách nhiệm để thực thi. “Vấn đề là anh bị che lấp bởi các động cơ khác mới khó làm, nếu quang minh, chính đại hoàn toàn có thể biết được đâu là động cơ tiêu cực, đâu là tình cảm chân thành trong mối quan hệ giữa cán bộ-đảng viên”-ông Phúc nói.

Vấn đề đầu tiên là “người làm công tác cán bộ” nếu không trách nhiệm, không trong sáng sẽ có thể lợi dụng vị trí lãnh đạo để bố trí sắp xếp cán bộ theo hướng… gắn với lợi ích của mình. Nếu thực sự trong sáng vì nhân dân, đất nước, vì Đảng thì hoàn toàn không có gì có thể che lấp. Theo ông Nguyễn Trọng Phúc, ở đây đòi hỏi tính minh bạch và thực sự dân chủ trong công tác lãnh đạo của Đảng nói chung và đặc biệt là trong công tác cán bộ. Nếu thực sự dân chủ, thực sự minh bạch, thực sự vì sự phát triển của đất nước, vì lợi ích và cuộc sống của nhân dân, hoàn toàn có thể khắc phục được tiêu cực trong công tác cán bộ. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu các hiện tượng bổ nhiệm người nhà, người thân vào các vị trí lãnh đạo. Nhưng bây giờ Quy định 205 nêu rõ các hiện tượng đó bị nghiêm cấm và được nhận diện cho rõ để chỉ đạo thực hiện cho quyết liệt.

“Nếu người đứng đầu làm công tác tổ chức cán bộ thực sự trong sáng vì sự phát triển của Đảng, đất nước sẽ không khó thực hiện và hoàn toàn có thể ngăn chặn được tình trạng tiêu cực đó. Sự nêu gương của người đứng đầu, cán bộ đảng viên là điều quan trọng nhất vì ngoài phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, sự nêu gương trong sáng trong công tác cán bộ, minh bạch dân chủ trong công tác cán bộ là vô cùng quan trọng”-ông Phúc nói.

“Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 205 nghiêm cấm chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm đang được cán bộ đảng viên đồng tình vì vừa mang tính ngăn chặn, vừa mang tính răn đe. Nhưng chạy chức, chạy quyền rất kín đáo, tinh vi do đó người đứng đầu từ Trung ương cho đến bộ, ngành, địa phương phải gương mẫu chấp hành và nêu gương thực hiện, không để cho những người chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp vào cấp ủy, vào vị trí chủ chốt đó mới là điều quan trọng. Vì ngăn chặn, phòng ngừa, răn đe để hạn chế mức thấp nhất, những ai muốn chạy chức, chạy quyền vào vị trí quan trọng. Thường mỗi khi cuối nhiệm kỳ, người lãnh đạo thường xắp xếp, bố trí người thân quen vào vị trí chủ chốt nhằm sau này có thể “nhờ vả”, hưởng lợi sau khi nghỉ. Nhưng đó chính là thoái hóa biến chất, lợi ích nhóm, thực dụng vì thế nếu đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu theo tinh thần Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương thì mới có được đội ngũ cán bộ tốt đưa đất nước phát triển”-ông Phạm Văn Hòa, Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội chia sẻ khi đưa ra giải pháp để Quy định 205 đi vào cuộc sống.

Nêu cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình

Đề cập đến giải pháp để Quy định 205 thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, ông Hoàng Trọng Hưng, Chánh Văn phòng Ban Tổ chức Trung ương cho rằng, phải thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Theo đó, phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về nội dung của Quy định 205 gắn với đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để nâng cao lòng tự trọng, hình thành văn hóa, môi trường lành mạnh trong công tác cán bộ. Bên cạnh đó, cần tiếp tục cụ thể hóa các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng để hoàn thiện các quy chế, quy định làm sao chặt chẽ, đồng bộ, liên thông về công tác cán bộ ở tất cả các khâu, kể cả quản lý đội ngũ cán bộ đảng viên. Đồng thời tiếp tục rà soát để sửa đổi quy chế, quy định kể cả bên Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể đồng bộ liên thông, tránh không đồng bộ, vênh nhau rất khó. “Phải nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định của các cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát và thanh tra định kỳ đột xuất trong công tác cán bộ. Coi trọng cảnh báo, phòng ngừa, xử lý nghiêm minh vi phạm để đảm bảo làm sao không thể chạy, không dám chạy, không cần chạy, không muốn chạy. Tăng cường kiểm tra giám sát, thanh tra nội bộ theo chuyên đề, chuyên ngành”-ông Hưng cho hay.

Tuy nhiên một vấn đề quan trọng được ông Hưng nhắc đến là sự nêu cao ý thức trách nhiệm tự phê bình và phê bình của tập thể có liên quan. Đồng thời phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, cơ quan truyền thông báo chí và nhân dân trong tuyên truyền, kiểm tra giám sát quyền lực nhằm kịp thời phát hiện tiêu cực để đưa thông tin đến tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xử lý.

Thực tế thì nếu không xử lý người “chạy”, rất có thể làm mất đi động lực của người có phẩm chất, năng lực. Chính vì thế, theo ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng (Ban Tổ chức Trung ương), nói đến vấn đề chạy chức, chạy quyền, trước đây dư luận vẫn đặt câu hỏi “ai chạy, chạy ai”, nhưng lần này trong Quy định 205, Bộ Chính trị đã chỉ ra được những “địa chỉ” có thể chạy chức, chạy quyền. Đó là chạy đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lực trong công tác cán bộ. Quy định 205 đã nêu rõ những cơ quan, tổ chức, tập thể, cá nhân có liên quan đến công tác cán bộ sẽ phải làm gì, được làm gì, không được làm những gì một cách cụ thể. Đồng thời cũng chỉ rõ những hành vi được coi là hành vi nhằm chạy chức, chạy quyền. “Từ đó để soi, để áp vào thực tế, nếu cán bộ nào có biểu hiện như nêu trong Quy định 205, tức là cán bộ đó có biểu hiện của hành vi chạy chức, chạy quyền. Từ quy định ban hành sẽ là cơ sở để cho cán bộ đảng viên và người dân tham gia giám sát, phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa tiêu cực này, cùng với việc có chế tài để xử lý hành vi chạy chức, chạy quyền”- ông Hà nói.

Tuy nhiên để Quy định 205 đi vào cuộc sống và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, ngăn chặn chạy chức, chạy quyền, theo ông Hà, Quy định 205 đã nêu các việc cụ thể về việc được làm, và không được làm, cùng với những chế tài xử lý với những hành vi chạy chức, chạy quyền được biểu hiện như thế nào. Do đó toàn Đảng, toàn dân cần căn cứ vào đó để theo dõi, giám sát công tác cán bộ, đặc biệt,  trong thời gian tới đây khi chuẩn bị nhân sự cấp ủy các cấp.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những động tác mới trong bài tập thể dục khí công trong lớp ở toronto

https://www.youtube.com/results?search_query=%C4%90%E1%BB%97+%C4%90%E1%BB%A9c+Ng%E1%BB%8Dc

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nước Mội, rừng xanh và sự sống

Nguyên Ngọc

Quê tôi ở vùng Nam Trung bộ, đúng cái đoạn mà một nhà thơ từng thống thiết gọi là “dằng dặc khúc ruột miền Trung”. Ở đấy, miên man mấy trăm cây số ven biển là những cồn cát lớn, nơi trắng phau một màu trắng tinh khiết đến khó tin, nơi vàng rộm ngon lành trong nắng cháy. Làng cũng là làng trên cát; con người sống trên cát, tử sinh cùng với cát.

Tôi có đọc một ít lịch sử và tôi biết, lạ vậy, toàn cát vậy, nhưng đấy vốn không phải là một vùng đất nghèo. Từng có cả một vương quốc thịnh vượng trên dải đất này. Một vương quốc nông nghiệp và hải dương. Có lẽ một trong những bí quyết thịnh vượng của vương quốc ấy là nước, mà thiên nhiên đã rất thông minh giữ và dành cho dải đất thoạt nhìn thật khô cằn này, và con người thì cũng thật thông minh hiểu được món quà quý của đất trời, biết tận dụng lấy cho mình.

Cho đến chỉ cách đây đâu khoảng chưa đến nửa thế kỷ, ở quê tôi vẫn còn một kỹ thuật nông nghiệp rất đặc biệt, tinh tế và thú vị, gọi là kỹ thuật “tưới nước mội”, người Việt học được của người Chăm khi đi vào Nam. Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành.

Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất. Nước mội từ trong lòng cát rỉ ra, nhẹ nhàng, chậm chạp, từ tốn, mà bất tận. Những chiếc ao nước mội, những con mắt ngọc xanh rờn, mát rợi của đất đai, làng mạc, đồng ruộng quê tôi. Nhỏ nhoi và thầm lặng, chính chúng nuôi sống nền nông nghiệp từng trù phú của vương quốc xưa, và của cả cha ông chúng tôi nữa khi họ đi về Nam…

Champa cũng là một vương quốc biển, từng dong thuyền đến những đại dương xa, và từng có những cảng quốc tế rộn rịp trên suốt dọc bờ biển của mình. Những người có đôi chút kiến thức về giao thương biển đều biết rằng một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất của một cảng biển quốc tế là nước ngọt, phải rất dồi dào nước ngọt. Những con tàu lang thang nhiều tháng trời trên các đại dương mặn chát, lắm khi chẳng vì mua bán gì cả, vẫn phải ghé lại các cảng ven bờ để “ăn” nước ngọt.

Và trên dải cồn cát miên man của mình, người Chăm là những người thiện nghệ nhất thế gian về nghề tìm mạch nước, đào và thiết kế giếng nước ngọt. Họ như có con mắt thần, có thể nhìn thấy đường đi của nước ngọt âm thầm trong lòng đất, những dòng nước mội. Chính hệ thống giếng nước ngọt thánh thiện và tuyệt vời – từ nước mội bất tận rỉ ra mà có – đã tạo nên vương quốc đại dương Champa, tôi nghĩ nói thế cũng chẳng hề quá đáng đâu…

Từ nhỏ, là dân vùng cát cháy miền Trung, tôi đã có hạnh phúc được biết nước mội, nếm nước mội, ăn nước mội, sống và lớn lên bằng cây cỏ được nuôi bằng nguồn nước mội ân huệ bất tận.Của Trời.Rồi về sau, cuộc đời lại đã cho tôi một may mắn khác: tôi hiểu hóa ra “Trời” đó không phải là một đấng trừu tượng thần bí nào, mà là một thực thể sống động, khổng lồ, cường tráng, hùng vĩ…, mà lạ thay, cũng lại rất mong manh, hết sức mong manh, ngày càng đang trở nên cực kỳ mong manh!Trường Sơn. Tây Nguyên.

Tôi đã được đi đến nơi đó và gắn bó hơn nửa cuộc đời của mình ở đó.Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người Mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này.

Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.Có lẽ cũng cần nói thêm một chút nữa về điều này: không chỉ cho dải đất cát cháy miền Trung đâu. Trường Sơn có một đặc điểm quan trọng về địa hình: đường phân thủy ở đây không chạy đúng giữa mà sát ngay về phía đông của rặng núi dằng dặc này, nghĩa là sườn phía tây của Trường Sơn rộng hơn sườn phía đông rất nhiều, có thể đến bốn năm lần. Tức nước từ Tây Nguyên đổ về phía tây cũng nhiều hơn về phía đông có thể đến bốn hay năm lần. Mà đổ về phía tây tức là về Mékông, về Nam Bộ, về toàn miền Nam.

Trong một chừng mực nào đó, Tây Nguyên, rừng Tây Nguyên có ý nghĩa quyết định đối với toàn miền Nam về tất cả các mặt. Nếu chỉ nói một mặt nước thôi, thì có lẽ cũng nên nhớ: nước ở miền Tây Nam bộ, ở Cà Mau kia, cũng có thể là nước mội từ Mẹ Rừng Tây Nguyên chắt chiu đưa về đấy, cho mênh mang vùng đất lúa của cả nước ấy không bị nhiễm mặn…

Hàng nghìn đời nay có những con người đã sống ở đây, gắn bó ruột thịt với rừng và đã tạo nên cả một nền văn hóa đầy minh triết bắt nguồn chính từ sự gắn bó ấy. Để bày tỏ đôi lời thật giản lược về nền văn hóa ấy và những con người ấy, chắc có thể nói vắn tắt như thế này: người Tây Nguyên không bao giờ coi rừng là tài nguyên. Không bao giờ có khái niệm khai phá, chinh phục, chiếm lĩnh tự nhiên, rừng. Đơn giản, Rừng đối với họ là Tất cả, là Mẹ, là cội nguồn của sự sống. Mà họ kính trọng và tôn thờ.

Chúng ta, những người tự coi là rất văn minh, rất khoa học, chúng ta biết nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng chúng ta không biết, biết bằng hành vi cụ thể chứ không phải bằng lý lẽ to tát, rằng không có rừng thì cũng chẳng có, chẳng còn nước, nghĩa là cũng chẳng còn có sự sống, chúng ta không biết cái chân lý sơ đẳng và đơn giản ấy. Nhìn thấy rừng là con mắt ta hau háu nhìn thấy gỗ, gỗ, gỗ… Và hết gỗ rồi, bây giờ, thấy tài nguyên khác. Hau háu, hung hăng, hỗn hào chặt phá,và hết chặt phá, chẳng còn gì để chặt phá nữa thì đào bới…

Ở quê tôi, nay đã kiệt nước mội rồi. Chi tiết rất nhỏ ấy thôi, vậy đó, lại đang là tai họa tày trời! Chắc chưa ai quên vụ lũ kinh hoàng ở Phú Yên vừa rồi. Cả thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu chìm trong nước sâu. Gần trăm người chết. Ruộng đồng tan hoang… Một vị có trách nhiệm rất cao và trực tiếp giải thích: Ấy là vì biến đổi khí hậu toàn cầu, và lại nữa, vì nhân dân mất cảnh giác. Tại Trời và tại dân, Trời thì ngày càng tai ác, còn dân thì mãi ngu dốt! Có một chi tiết hẳn ở cương vị của ông ấy, ông ấy ắt phải biết nhưng lại không thấy ông nói: năm 2009, ở Phú Yên áp thấp nhiệt đới gây mưa 330 li; năm 1991, cũng tại chính Phú Yên này, mưa 1300 li, gấp hơn ba lần.

Năm 1991 không có gì đáng kể, năm 2009 lại tai họa khủng khiếp, vì sao? Ở miền Trung – mà ở cả nước đều vậy – ngày xưa chỉ có lụt và lụt là mùa rất vui, thậm chí thân thiết, mỗi năm lại trở lại một lần, người ta chờ nước lụt, nước lên từ tốn, ruộng đồng được tưới tắm phù sa, cũng là lúc làm ăn rộn rã, có lẽ cũng tương tự như mùa nước nổi ở Nam Bộ thuở nào.

Ngày nay không còn lụt, chỉ có lũ. Lũ rất khác lụt, lũ là nước đột ngột đổ ập xuống, như thác, hung bạo, nhanh và dữ cho đến nỗi, như vừa rồi, có người đã leo lên trần nhà rồi còn chết ngạt trong ấy vì không kịp dở mái để leo lên nữa! Lũ không mang phù sa đến, lũ quét sạch tất cả những gì nó gặp trên đường đi, và kéo đất đá từ trên rừng xuống lấp hết ruộng đồng. Tất nhiên ngày xưa cũng có lũ, nhưng chỉ trong những năm mưa đặc biệt lớn, cả đời một con người chỉ chứng kiến vài lần.

Ngày nay hễ đài vừa báo áp thấp nhiệt đới, thậm chí chỉ áp thấp, là cả nước đã rùng rùng lo chống lũ, sập núi, trôi rừng…Con số 1300 li năm 1991 và 330 li năm 2009 là con số hùng hồn, nó nói rằng vụ Phú Yên vừa rồi không phải chủ yếu do biến đổi khí hậu toàn cầu, không phải do Trời, như lời giải thích uyên bác của vị quan chức nọ.

Do người. Do cơ chế nước mội tinh tế, tinh vi, thông minh, nhân hậu tuyệt vời của thiên nhiên đã không còn, đã bị phá vỡ, đã bị con người triệt diệt bằng cách triệt diệt rừng. Rừng Tây Nguyên. Trong một cuộc trao đổi ở Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Trung ương vừa rồi, nhiều chuyên gia đã cảnh báo: không chỉ có nguy cơ lũ quét đâu, sau lũ quét sẽ tiếp đến nguy cơ hạn hán sẽ còn khốc liệt, tai hại hơn. Bởi vì nước mội và lụt hằng năm hiền lành là cùng một cơ chế, cùng một tác giả: Rừng. Rừng Tây Nguyên.

Trong hơn 30 năm qua, từ sau 1975 chúng ta đã làm xong một công việc to lớn: cơ bản phá hết, cạo sạch đến tận cùng rừng tự nhiên trên cái mái nhà sinh tử của toàn Đông Dương này. Đã quét sạch xong hết trên mặt đất, bây giờ đang bắt đầu moi sạch nốt dưới lòng đất. Cao su tuyệt đối không phải là rừng, không sinh ra cơ chế nước mội. Các khu công nghiệp của công nhiệp hóa và hiện đại hóa càng tuyệt đối không phải là rừng. Một quy luật vận hành ổn định, điều hòa, thông minh của tự nhiên đã bị triệt diệt, nhanh và cơ bản hơn tất cả mọi giai đoạn từng có trong lịch sử. Một quy luật khác đã được thiết lập, quy luật của hỗn loạn.

Hãy nhìn lên cái mái nhà chung kia mà bao nhiêu thế hệ nhiều nghìn năm qua đã giao lại cho chúng ta, trên ấy đã mất hết màu xanh của sự sống.Có còn cứu được không?Còn, với một điều kiện: biết giật mình, dừng lại, bắt đầu lại.Cũng cần nói: hầu hết các nước mà ngày nay ta gọi là những nước phát triển đều đã đi qua “con đường đau khổ”, đúng hơn là con đường ngu dại này, cũng từng tàn phá hết rừng trên mặt đất và đào bới tàn bạo lòng đất, ở nước họ, rồi ở các nước khác.

Chỉ có điều, gần một thế kỷ trước họ đã giật mình dừng lại, và từ đó bắt đầu làm lại, khôi phục lại màu xanh cho đất đai, núi non của họ.Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáy, đã che mắt chúng ta. Đang còn tiếp tục che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn còn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên.

Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng.Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên.

Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan.Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngữa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn.


Nhà văn Nguyên Ngọc: ‘Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan’

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.
Tây Nguyên rất đặc biệt nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yếu tố này sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên hoặc nếu có cũng không còn là văn hóa thật.

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá. Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp.

Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không? Để khôi phục rừng Tây Nguyên chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu.

Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của “Cuộc cách mạng một cọng rơm”, không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ.
Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần, đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên cũng rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao?
Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết: “Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều”.
Xin nói qua từ “mọi”. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ mọi và càng sai khi dùng từ mọi rợ theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên.
Thật ra, từ “mọi” vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ “tơmoi” trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar-Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên Chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên Chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên Chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahnar Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là “tơmoi”, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố “tơ” bị rớt đi, còn lại “moi”, “moi” nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là “moi”, người Việt gọi là “mọi”, hoàn toàn là một danh xưng.
Nói tiếp chuyện văn minh.

Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá.
Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: “Nói tầm bậy”. Và những thanh niên xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.
Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên, giải thích rằng với họ làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành.
Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt, Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với trời đất.
Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày nay xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá.

Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cộng hoa & Dân chủ

Một anh chàng theo đảng Cộng Hòa đang cắt cỏ ở vườn nhà thì thấy vợ chồng hàng xóm dắt con gái đi qua (gia đình hàng xóm theo đảng Dân Chủ). Hai bên bắt chuyện, rồi anh chàng hỏi cháu bé:
– Lúc lớn lên cháu muốn làm gì?
– Cháu muốn làm tổng thống!
– Vậy nếu cháu là tổng thống thì việc đầu tiên cháu sẽ làm là gì?
– Cháu sẽ giúp cho người nghèo và vô gia cư có cơm ăn và chỗ ngủ!

Mặt mũi bố mẹ cô bé rạng ngời lên vì hãnh diện.
– Đó thật là một việc cao cả và đáng khen! Nhưng cháu có thể bắt tay vào thực hiện việc này ngay từ bây giờ mà không cần chờ làm tổng thống.
– Như thế nào ạ?
– Cháu có thể cắt cỏ ở sân nhà chú, chú sẽ trả tiền cho cháu, rồi dẫn cháu đến cửa hàng thực phẩm. Chỗ đó có nhiều người vô gia cư ngồi, cháu có thể dùng số tiền đó cho họ để mua thức ăn hay thuê tạm chỗ ngủ mấy hôm.

Cô bé nghĩ một lúc rồi hỏi:
– Thế tại sao mấy người vô gia cư đó không đến gặp chú và tự mình làm việc cắt cỏ để có tiền mua thức ăn và thuê chỗ ngủ?
– Chào mừng cháu gia nhập đảng Cộng Hòa!

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Xuân không mùa Xuân Diệu

http://vanhoc.xitrum.net/thoca/hiendai/5968.html

Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ…

Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Nếu lá úa trên cành bàng không rụng,
Mà hoa thưa ửng máu quá ngày thường;
Nếu vườn nào cây nhãn bỗng ra hương,
Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa?

                 *

Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua
Ngừng mắt lại, để trao cười, bỡ ngỡ.
Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Thêm một phen, tuy đã mấy lần tàn.
Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian
Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ?
Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay…
Ấy là thư hồi hộp đón trong tay;
Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày
Một sớm tim bỗng dịu dàng đồng vọng…
Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng,
Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng.


1939

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

‘Lớp học không có chỗ cho rừng biệt ngữ’

Phản hồi của tôi về ‘Lớp học không có chỗ cho rừng biệt ngữ’ (Herald Sun 15/7/2013) Tiến sĩ Kevin Donnelly

học tập

Lời mời Tiến sĩ Kevin Donnelly đến thăm trường của tôi và xem chúng tôi dạy gì, dạy như thế nào và chúng tôi biết học sinh của mình đang học như thế nào!

‘Các nhà quan liêu nói về việc thiết lập mục tiêu toàn diện, có thương lượng; học đọc được mô tả là áp dụng một khuôn khổ xã hội-kiến tạo phản biện, nơi học sinh được làm quen với các văn bản đa phương thức và tương tác.
Giáo viên không còn dạy nữa: họ tạo điều kiện và trở thành người hướng dẫn ở bên cạnh. Trẻ em được mô tả như những người định hướng kiến ​​thức và những người bản xứ kỹ thuật số, và việc học tập là để định hướng tương lai và có tính phản biện xã hội.
Với sự ra đời của các lớp học mở, giảng dạy năng lực hỗn hợp và học tập cá nhân hóa, vấn đề đối với các bậc cha mẹ là ngày càng khó khăn hơn để tìm ra những gì đang thực sự xảy ra ở trường và liệu con họ đậu hay rớt. Trẻ em không còn được xếp hạng trong lớp hoặc bị chấm trên 10; thay vào đó, chúng được đặt trên một chuỗi phát triển liên tục và thất bại được mô tả là thành công trì hoãn. ‘(OPINION p21 Herald Sun 15/7/2013)

Tôi bắt đầu từ đâu?
Khi tôi đọc những bài báo như thế này, tôi ước gì mình có cơ hội được nói chuyện về việc dạy và học trước với Tiến sĩ Kevin Donnelly. Sự tiêu cực như vậy thật đáng thất vọng vì nếu Tiến sĩ Kevin Donnelly đến thăm trường tôi, ông ấy sẽ hiểu được lý do tại sao các phương pháp thực hành của chúng ta đang thay đổi.

Thứ nhất, tôi là một giáo viên và học sinh của tôi là học sinh.

Việc giảng dạy của tôi có được cá nhân hóa không? 
Các học sinh của tôi có được xếp vào nhóm liên tục cho môn toán không? 
Tôi là một nhà kiến ​​tạo? 
Chúng ta đã thương lượng thiết lập mục tiêu chưa? 
Học sinh của chúng tôi có được đánh giá cẩn thận theo các tiêu chuẩn không? ĐÚNG

Hôm nay tôi đã tham dự một ngày phát triển nghề nghiệp đầy cảm hứng .

Hướng tới một cách tiếp cận toàn trường đối với việc Lập kế hoạch, Giảng dạy & Đánh giá Toán học.

Học sinh được đánh giá cá nhân để xác định sự hiểu biết trước của họ, do đó, hướng dẫn được xây dựng trên những gì họ biết. Tại sao? Để tạo điều kiện cho học sinh tiến về phía trước liên tục – các khái niệm và kỹ năng. Đây là thuyết kiến ​​tạo .

Tôi có muốn sinh viên của mình nói rõ những gì họ biết, những gì họ đang học và những gì họ sẽ cần học tiếp theo không? Vâng tôi đồng ý! Học sinh hiểu và có thể nói rõ việc học của mình có thể đặt ra các mục tiêu cá nhân và đạt được.

Các bài học được cấu trúc một cách cẩn thận với các sinh viên tham gia vào một toán Warm Up , các Launch / Focus với một thiết lập cảnh mục đích lên kế hoạch một cách cẩn thận, cung cấp người mẫu, chất vấn và giới thiệu / sửa đổi ngôn ngữ toán học.
Giai đoạn tiếp theo là Học tập được Cá nhân hóa , nơi học sinh hoàn thành các nhiệm vụ chất lượng để phát triển và mở rộng hiểu biết về toán học, giải quyết vấn đề và hiểu rõ quá trình học của mình. Tất cả học sinh đều tham gia vào các buổi giảng dạy rõ ràng và được đánh giá dựa trên kết quả học tập.
Phần cuối cùng của bài học là Suy ngẫm và Giải thích nơi học sinh trình bày rõ ràng, xây dựng và / hoặc củng cố việc học, chiến lược và ngôn ngữ.

Phụ huynh được thông báo về sự tiến bộ của con mình trong suốt cả năm và có thể thảo luận về những điểm mạnh và quan niệm sai lầm đã được xác định dựa trên đánh giá kỹ lưỡng.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?