Phố Võ Nguyên Giáp

Phố Võ Nguyên Giáp

Ước mong của một CCB đã không thành hiện thực. Hà Nội có Phố mang tên đại tướng nhưng người dân Thủ Đô cũng như cả nước chả mấy khi  dạo bước, đi lại trên phố đó. Và cư dân của phố, lèo tèo gọi là có?

Nguyễn Quang Đạo

Trong suốt hàng ngàn năm giữ nước và dựng nước, dân tộc Việt có rất nhiều danh tướng đánh thắng ngoại xâm được nhân dân ghi nhớ công ơn đời đời như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi… Tới thời đại Hồ Chí Minh, Việt Nam có thêm danh tướng Võ Nguyên Giáp, vị đại tướng cầm quân trong hai cuộc kháng chiến thắng Pháp và Mỹ.

Thủ đô Hà Nội sẽ có một con đường mang tên vị tướng huyền thoại này. Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đang xem xét để lựa chọn con đường nào có ý nghĩa lịch sử, có độ dài, rộng tương xứng và có vị trí quan trọng để xứng với công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Người dân Thủ đô cũng như cả nước cùng chung nguyện vọng phố Võ Nguyên Giáp có ý nghĩa lịch sử và có vị trí thích hợp.

Có một con đường giữa lòng Hà Nội đã tưng bừng chào đón những chiến sỹ của Đại đoàn quân tiên phong trở về Giải phóng Thủ đô sau những ngày tham chiến góp phần tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ đánh bại đội quân viễn chinh Pháp. Cũng trên con đường đó, các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã từng áp giải những toán tù binh Mỹ vào tù và nhiều cuộc duyệt binh, diễu binh đã diễn ra vào những dịp lễ hội mừng Ngày Độc Lập, mừng Chiến thắng đế quốc Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước…

Con đường đó, vào cuối thế kỷ 19, khi thực dân Pháp hoàn tất chiếm đóng Hà nội đã đặt tên là Rue des Inserupteurs (Phố Thợ Khảm, kéo dài từ đê Sông Hồng tới Cửa Nam). Sau đó, đốc lý Hà Nội Halais đặt tên đoạn đầu phố là Rue Paul Bert (nguyên thống sứ An Nam và Bắc Kỳ chết năm 1886 tại Hà Nội), đoạn cuối phố là Rue Borgnis Desborder. Vào cuối tháng Bẩy và đầu tháng Tám năm 1945, Bác sỹ Trần Văn Lai, thị trưởng người Việt đầu tiên của Hà Nội, đã đổi tên phố Rue Paul Bert, đoạn đầu từ Viện Bảo tàng Lịch sử đến Hồ Gươm thành phố Tràng Tiền*, đoạn cuối phía Nam Hồ Gươm thành phố Hàng Khay** và phố Rue Borgnis Desborder được đổi thành phố Tràng Thi***.

Con đường được đặt tên là Phố Võ Nguyên Giáp sẽ gồm phố Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi. Phố Võ Nguyên Giáp khởi đầu từ Bảo tàng Lịch sử, có đoạn ngang qua Nhà Hát Lớn, Quảng trường Cách Mạng Tháng Tám, đoạn giữa phố cây xanh bóng cả soi bóng Hồ Gươm và cuối phố sẽ nối với phố Điện Biên Phủ, phố có Bảo tàng Quân đội và hướng tới Đường Hùng Vương, Quảng trường Ba đình, nơi đặt lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phố Võ Nguyên Giáp nằm trong quần thể các phố mang tên các vị vua, các danh tướng và nhân sĩ trong suốt lịch sử bảo vệ và phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam. Phố Võ Nguyên Giáp tiếp giáp với các phố Lê Thái Tổ, Lý Thái Tổ, Đinh Tiên Hoàng, Lê Thánh Tông, Quang Trung, Bà Triệu, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Ngô Quyền, Nguyễn Xí, Triệu Quốc Đạt, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và song song với các phố Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Đinh Lễ, Lê Lai.

Phố Võ Nguyên Giáp là một trong những đường phố đẹp nhất tại Quận Hoàn Kiếm, giữa Trung tâm Thủ đô, trái tim của cả nước. Người dân, từ trẻ thơ cho tới người già và từ mọi miền Tổ Quốc hay bạn bè năm châu đến thăm Hà nội đều có thể dạo bước trên đường phố mang tên Võ Nguyên Giáp, người anh hùng dân tộc sống mãi trong lòng người dân Việt Nam.

* Phố được gọi là phố Tràng Tiền vì có Cục bảo toàn nguyên là xưởng đúc tiền kẽm của nhà Nguyễn.

** Phố Hàng Khay nối phố Tràng Tiền với phố Tràng Thi, trước đây nhiều người làm nghề đồ gỗ khảm trai.

*** Phố Tràng Thi có Trường thi của triều đình Nguyễn nên được đặt tên là Tràng (trường)Thi.

Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

thư gửi con từ Seattle


Mẹ bảo, Linh nấu ăn rất ngon. Tiếc quá, bố không ở nhà để thưởng thức món thịt và khoai tây nướng mà Linh mới trổ tài. Khi nào bố về con gái nấu lại cho bố thưởng thức nhé. Mẹ còn “khoe” với bố là Linh mới nhận giấy khen thi môn toán và khoa học; Linh nhớ gửi scan cho bố để bố còn “khoe” với cả nhà, ông bà nôi, bà ngoại chắc vui lắm, bà sẽ lại gọi điện sang nói, đó là “thuốc tiên” của cháu gái gửi cho ông bà đó.

… Bác Q. vừa viết email kể về chuyện bác ấy đến xem triển lãm ở thư viện Quốc gia, nơi bà nội làm việc mấy chục năm, bác mong thế hệ thứ ba, thứ tư cũng ham đọc sách như thế hệ thứ hai. Bố sẽ viết cho bác ấy hãy yên tâm về cháu Linh, đọc sách là một trong những say mê lớn nhất của cháu. Sách không chỉ làm mình thú vị khi đọc, qua trang sách mình học hỏi được rất nhiều phải không con. Bố thấy yên tâm về con. Con ham hiểu biết và có nghị lực, khoẻ mạnh và có tấm lòng, những hành trang cần thiết nhất cho mỗi người “thẳng tiến trên đường đời”, như nhan đề của một cuốn sách.
Hình ảnhHình ảnh
… Seattle nắng vẫn rực rỡ, tuy thế, đã có ngày mưa rả rích, bầu trời lúc nào cũng u ám đầy mây. Lá trên nhiều cây đã chuyển sang màu vàng hoặc đỏ, đặc biệt phủ kín cả cây và không hề lẫn lá màu xanh nên trông rất đẹp mắt. Thời tiết cũng đã bắt đầu se lạnh, nhất là vào sáng sớm. Mọi người bảo, chỉ thêm tuần nữa là mưa thôi, mưa suốt ngày, mưa triền miên khiến người buồn lắm. Chả biết, mưa nhiều có giống những mùa mưa bố đã từng chịu đựng khi ở chiến trường ba mấy năm trước không? Hồi đó, mấy chàng lính trẻ Hà nội buồn và nhớ nhà kinh khủng, lại đói nữa…
Hình ảnh
… Bố rất thích khu phố này. Cả khu phố chỉ có khoảng gần trăm nóc nhà. Hầu hết các nhà đều 2 tầng xinh xắn, cách biệt với hàng xóm vài mét. Dùng từ biệt thự ở đây chắc đúng 100%. Đường phố được quy hoạch theo kiểu “bàn tay”, nghĩa là chỉ có một lối ra vào chính rồi xoè ra các phố nhỏ và các phố này không thông với nhau; vì chỉ có cư dân trong vùng lái xe đi lại nên đường phố thường tĩnh mịnh. Nhà ở xen lẫn với rừng cây, rất thoáng đãng, xanh, sạch và đẹp. Môi trường được gìn giữ tuyệt vời.
Hình ảnhHình ảnh
…Buổi tối bố thường xem TV, xem phim. Chương trình TV có đến cả trăm kênh, còn chương trình phim cũng có đến hàng trăm phim, mình lựa chọn, bấm xem hệt như sử dụng DVD vậy. Bố đã có dịp đến trường học, bệnh viện, đến công ty, siêu thị, chợ, nhà thờ, thăm gia đình người Việt, người Mỹ, dự lễ hội Halloweel, … Cảm nhận của bố về nước Mỹ vẫn giống như năm ngoái khi đi cùng mẹ sang đây. Sau hơn chục năm ở Úc, Australia với bố đã tốt đẹp, hơn hẳn Liên xô thời hoàng kim trong những năm bố mẹ học ở đó; nhưng nước Mỹ còn tươi đẹp hơn. Cuối năm nay TT sẽ đến Mỹ và sẽ có cảm nhận riêng. Bố mong Linh cũng sẽ sớm có dịp đi chu du Châu Âu và Mỹ như chị. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, các cụ dậy rồi.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?
Những ngày cuối tháng 10, lễ hội Halloween đuợc tổ chức nhu ngày tết lớn nhất của thiếu nhi cung thật đáng nhớ. Các hình ảnh về Hallowen nhu quả bí đỏ khoét hình mặt quỷ nhăn nhở, hình nộm phù thủy mui nhọn cuỡi chổi… trang hoàng khắp nơi. Nhà truờng, nhà thờ đều tổ chức lễ hội này với quy mô lớn. Có cảm tuởng như cả gia đinh và xã hội đều chăm lo cho trẻ con nhân dịp này.

Hình ảnh
Thầy cô giáo độc đáo không kém trong lễ hội ở trường tiểu học:
Hình ảnh
Và bé con cũng trở thành thiên thần
Hình ảnh

Trong lần sang Mỹ này tôi được huởng một mùa thu đẹp đẽ với những tán phong vàng nghiêng nghiêng bên rặng thông xanh cao vút,
Hình ảnh

Chỉ còn hơn chục ngày nữa, người dân Mỹ sẽ đi bỏ phiếu chọn Tổng thống, người đứng đầu ngành hành pháp của nước Mỹ. Sau cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình lần thứ ba giữa hai ứng cử viên của hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa vào ngày 15/10, các cuộc thăm dò ý kiến đều cho thấy ông Barack Obama đang dẫn điểm trước ông John McCain ở mức 6 đến 9%. Tuy vậy, những người Mỹ mà tôi hỏi đều trả lời không có gì là chắc chắn để người dẫn điểm trở thành Tổng thống cả. Có nhiều người có thể sẽ đổi ý khi cầm trong tay là phiếu bầu cử.

Mới đây, cựu ngoại trưởng Colin Powell, đảng viên đảng Cộng hoà, lại tuyên bố ủng hộ ứng viên Dân Chủ Barack Obama trở thành tổng thống Mỹ. Ông nói “toàn bộ người Mỹ…chứ không chỉ người Mỹ da đen” sẽ tự hào cho chiến thắng của Obama.

Nếu Barack Obama thắng cử, trong lịch sử của mình, nước Mỹ lần đầu tiên có Tổng thống là người da mầu và khi đó, chúng ta sẽ được nghe diễn văn nhận chức của một người “có khả năng truyền cảm”, như Collin Powell từng nói về Barack Obama.

Hình ảnh

những con đường xào xạc lá vàng rơi khi những trận mưa đầu mùa đổ xuống.
Tháng Bẩy năm ngoái, lúc ở Washington DC, bật TV xem đúng chương trình tranh luận giữa các ứng cử viên của đảng Dân chủ. Như đa số lúc đó, cứ nghĩ bà Hillary Clinton sẽ được đảng Dân chủ chọn tranh cử chức Tổng thống vì Hillary Clinton có kinh nghiệm hơn do cao tuổi (60 tuổi so với Obama 46) và 35 năm trong chính trường sau khi đỗ tiến sĩ Luật Yale 1973. Vậy mà bà đã phải nhường bước cho một người mới bước vào chính trường Liên bang từ năm 2004: Barack Obama. Barack Obama là tên thường gọi, tên gọi đầy đủ là Barack Hussein Obama, sinh ngày 4 tháng 8, 1961, tại Honolulu, Hawaii, con ông Barack Hussein Obama Jr., người Kenya, Phi Châu, và mẹ người Mỹ, bà Ann Dunham, quê ở Wichita, Kansas.

Nhớ năm 2004, Barack Obama được chọn đọc diễn văn tại Ðại hội đảng Dân Chủ , với tư cách nhà lập pháp Tiểu bang: “…Không, nhân dân không mong chờ chính phủ giải quyết mọi vấn đề của họ. Nhưng họ nghĩ, trong thâm sâu xương tủy, với thay đổi nào đó trong các ưu tiên, chúng ta có thể chắc chắn mỗi trẻ em Hoa Kỳ có được cơ may trong cuộc sống và các cửa của cơ hội mở rộng cho mỗi người. Họ biết chúng ta có thể hành động tốt hơn, và muốn được sự lựa chọn đó.”

Tháng 2-2007, Barack Obama tuyên bố quyết định ra tranh cử tổng thống 2008, về lý do “tại sao ra tranh cử tổng thống”, ông nói: “Ðó là vì tại toà nhà Quốc Hội xưa kia, lúc ông Lincoln từng kêu gọi Hạ Viện chia rẽ hãy cùng đứng lại với nhau, nơi những hy vọng chung và những ước mơ chung vẫn còn sống động, hôm nay, đứng trước quý vị, tôi xin loan báo việc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ.”

Chiều ngày 4/11, tôi cố tìm đến một phòng phiếu để xem người Mỹ đi bầu cử ra sao. Không có gì đặc biệt. Không có khẩu hiệu và hoa, cũng không có loa, có nhạc, chỉ có những lá cờ Mỹ tung bay trong mưa và những người dân bình thản bỏ phiếu vào thùng.

Vào lúc hơn 8h tối khi mà các phòng phiếu ở Seattle chỉ vừa mới đóng cửa và các phiếu chưa được kiểm, các kênh truyền hình Mỹ đã đưa tin Thượng nghị sỹ Barack Obama thắng cử tổng thống. Tivi chiếu cảnh hàng chục ngàn người reo hò, vẫy cờ mừng thắng lợi tại quảng trườngTimes Square ở New York, Grant Park ở Chicago. Ngay sau đó, Thượng nghị sỹ McCain, ứng cử viên của Đảng Cộng hòa, xuất hiện trên TV CHÚC MỪNG NGƯỜI THẮNG CỬ.”

Không muốn “bình loạn” về những vấn đề lớn khác, chỉ riêng việc một người da mầu trở thành Tổng thống cường quốc đứng đầu thế giới đã cho thấy giấc mơ một nước Mỹ không phân biệt chủng tộc của Luther King cách nay 45 năm, đã thành hiện thực: “Trong giấc mơ của tôi, 4 đứa con tôi tới một ngày sẽ được sống trong một đất nước mà ở đó giá trị của chúng được đánh giá bởi chính ý chí, nghị lực cá nhân, chứ không phải bằng màu da. Ngày hôm nay, tôi có một giấc mơ. Tôi mơ một ngày kia bang Alabama, nơi vị thống đốc hiện thời đang luôn mồm nói về quyền can thiệp và vô hiệu hóa sẽ trở thành nơi các trẻ trai và trẻ gái da đen cùng nắm tay các bạn da trắng như anh em một nhà. Hôm nay, tôi có một giấc mơ. Tôi mơ một ngày kia các thung lũng rồi sẽ được lấp đầy, những quả đồi, ngọn núi sẽ được san bằng, mặt đất gồ ghề sẽ trở nên phẳng phiu, những góc quanh co sẽ được uốn thẳng tắp, và sự huy hoàng của Thiên Chúa sẽ được bộc lộ và mọi người cùng thấy. Đó là hy vọng của chúng ta. Đó là niềm tin tôi sẽ mang theo về miền Nam. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ có thể đập nát núi tuyệt vọng thành những viên đá hi vọng. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ biến những tiếng kêu bất hòa trong lòng dân tộc thành bản giao hưởng êm ái của tình đoàn kết anh em. Với niềm tin ấy, chúng ta sẽ cùng sát cánh bên nhau, cùng nguyện cầu, cùng chiến đấu, cùng vào nhà lao, cùng đứng lên vì tự do, vì chúng ta biết rõ một ngày kia chúng ta sẽ tự do…”

9 h tối, Barack Obama cùng vợ và hai cô con gái bước ra lễ đài được dựng tại Grant Park ở Chicago. Với tài hùng biện thiên bẩm, ông đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên khắp thế giới qua bài diễn văn thắng cử:” Nếu có ai đó vẫn đôi chút hoài nghi, không tin nước Mỹ là xứ sở của những điều không thể, không tin giấc mơ của lớp cha anh lập quốc vẫn tồn tại trong nước Mỹ thời nay, hay vẫn nghi ngờ về sức mạnh của nền dân chủ Mỹ, thì câu trả lời dành cho quý vị chính là đêm nay. ”

Chắc chắn vị Tổng thống thứ 44 của Hiếp chúng quốc Hoa kỳ với những tư tưởng cấp tiến sẽ đặt dấu ấn lớn trong lịch sử thế giới. Hy vọng “sự thay đổi đã đến với nước Mỹ” sẽ tạo hiệu ứng THAY ĐỔI lan tỏa khắp nơi

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Seattle 2

Trong lần thứ hai tới Mỹ, tôi có may mắn hiểu biết thêm về tôn giáo. Những buổi tới nhà thờ tại Mỹ khiến tôi hết sức ngạc nhiên và thích thú. Hình ảnh nhà thờ trong tôi từ xưa luôn gắn với tháp chuông cao cổ kính, đức cha trịnh trọng áo mũ cân đai đạo mạo giao giảng, các con chiên quỳ lạy ê a thành kính đọc kinh thánh đã đuợc thay thế. Nhà thờ ở đây đuợc xây dựng khá hiện đại, tầng trên có hai hội truờng lớn, một hội trường dành cho những nguời lớn tuổi và một cho những nguời trẻ; cả hai đuợc trang bị nhiều phương tiện kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, màn hình khổ lớn hiện đại như một rạp hát.

Mục sư mặc quần bò, áo sơ mi bỏ ngoài quần, vui vẻ đứng giữa sân khấu thuyết giảng. Giọng nói của ông truyền cảm, ấp áp, nội dung giản dị, dễ hiểu song rất thông tuệ. Xen giữa bài thuyết pháp là những bài hát về niềm tin, tình yêu và sự hy vọng mà thuờng là nguời ngồi duới cùng đứng lên hòa âm với dàn đồng ca. Bầu không khí không hề trang nghiêm mà vui vẻ, nhẹ nhàng như sinh hoạt câu lạc bộ giữa những nguời cùng sở thích, cùng niềm tin.

Tầng trệt của nhà thờ có tới hơn chục phòng lớn nhỏ chuyên dùng để con em các tín đồ đến “học mà chơi, chơi mà học” với những nội dung hoàn toàn không dính dáng đến Kinh thánh. Chúng đựợc chia thành những nhóm cùng độ tuổi và mỗi nhóm được ít nhất 3 thiện nguyện viên hướng dẫn vui chơi. Bọn trẻ con rất sung sướng mỗi khi đến sinh hoạt tại nhà thờ vào tối thứ Tư và sáng Chủ Nhật hàng tuần.

Hóa ra cùng lấy Kinh thánh làm căn bản cho niềm tin, cùng có Đức Chúa nhưng đạo Baptist có cách giải thích kinh thánh khác với đạo Thiên chúa, không công nhận vai trò lãnh đạo của Giáo hoàng cũng như bất cứ thứ bậc tôn ty trật tự trên duới nào. Baptist cung không phải là đạo Tin Lành như tôi từng cho là và một khác biệt nữa là chỉ kết nạp những nguời trên 18 tuổi vào giáo phái…

Thật thiệt thòi khi thế hệ chúng tôi lớn lên trong hoàn cảnh Nhà thờ đóng cửa, Chùa chiền ít người lai vãng như chìm vào lãng quên; qua sách báo và học đường, nhiều người như tôi coi vô thần là lẽ sống đương nhiên. Sau những lần đến nhà thờ tại Mỹ, tôi tìm hiểu, đọc nhiều về hội thánh Baptist. Sự cách tân của hội thánh này trong Thiên chúa giáo có phần nào giống với những cải cách mà thiền sư Thích Nhất Hạnh thể hiện trong Đạo Phật mà tôi có cơ duyên nghe chính thầy thuyết giảng. Như tôi hiểu, nghĩa là không nệ cổ, tuy cũng dựa căn bản vào Kinh Thánh, Kinh Phật nhưng đem rất nhiều văn hóa mới và “đời thường” vào các bài thuyết giảng và các hoạt động khác.

Tôi đã có ý tìm đến giáo phái Baptist khi trở lại Úc. Thế nhưng ý định vẫn chỉ là dự định. Về mặt nào đó, sự thiệt thòi mà tôi nhắc đến ở trên cũng gây ảnh hưởng tới con của tôi. Cho dù lớn lên trong thế giới văn minh và được tiếp nhận học vấn của một nước có nền giáo dục phát triển, cho dù có tính cách mạnh mẽ, có bản lĩnh và sớm xác định được ước vọng của mình, hình như các con của tôi vẫn cần có thêm sự hiểu biết và niềm tin tôn giáo?

Anh trai tôi là một Phật tử có nhiều hoạt động trong lĩnh vực tâm linh và khôi phục văn hóa dân tộc cổ truyền. Song điều đó không ngăn cản con gái anh tìm đến sinh hoạt tại giáo phái Baptist khi sinh sống tại Mỹ. Bản thân tôi tin rằng, chính những người bạn cùng niềm tin tôn giáo với cháu gái tôi đã giúp cháu mình vượt qua được căn bệnh ung thư hiểm nghèo.

Khi khỏi bệnh, cháu gái tôi đã viết “A Tribute” . Tôi rất xúc động khi đọc bài: “A Tribute” và tôi nghĩ phải dịch ngay bài đó để mọi người cùng đọc, cùng rung cảm trước tình người mà cháu tôi đón nhận nơi xa xứ. Dịch xong toàn bài mới ngớ người trước từ “A Tribute”! Trong từ điển có nghĩa là vật cống (quý giá), ngoài ra có thể dùng “Lời cảm tạ”; tôi nghĩ cũng đúng nhưng vẫn không hài lòng.
 Tôi hình dung buổi lễ tại nhà thờ vào lúc mục sư đọc bài của cháu tôi. Hơn 2000 nghìn người chắc ngồi kín cả hội trường và cả trên gác, và có lẽ còn có rất đông người ngồi ngoài sảnh nghe lời mục sư qua hệ thống loa. Như cháu tôi viết, những giọt nước mắt trào ra của mục sư và của mọi người, là lẽ đương nhiên.  Chắc sau khi đọc thư của cháu tôi, mục sư sẽ có bài thuyết giảng cùng chủ đề và xen kẽ sẽ lại có những bài hát hết sức truyền cảm của ban nhạc mà rất nhiều người ngồi dưới cùng cất tiếng hòa theo? Khi đó bài cháu tôi viết chính là những “Lời tri ân” của cháu tôi đối với bạn bè gần xa, đối với phước lành mà Chúa ban cho.

Tuy nhiên, với những ai không đi lễ nhà thờ và đọc bằng Tiếng Việt, có lẽ phải đặt tiêu đề hợp nghĩa hơn cho bài viết. Tôi đọc lại nguyên bản và “tóm” được ý chính như sợi chỉ xuyên suốt toàn bài “I truly believe that my friends are gift from God” và thế là tiêu đề “Quà tặng từ Thượng đế” thành hình. Tôi đọc lại bản dịch lần nữa và nhận ra cần phải đổi là “Quà tặng từ Chúa” hay “Món quà Chúa ban” hay “Tình người- tặng phẩm Chúa ban”. Có lẽ câu cuối tôi dịch: “Chúa chính là niềm tin, hy vọng và cuộc sống của tôi” chưa diễn tả hết được những ý nghĩ chân thực của cháu tôi?

2008

Nguyễn Quang Đạo

 

Món quà Chúa ban

Tôi vẫn nhớ như in ngày bác sĩ gia đình gọi điện thoại nói ông hơi lo ngại về cái bướu nhỏ khác thường tại cổ tôi. Nghe âm điệu giọng nói của bác sĩ, gần như tức thì, tôi cảm nhận một điều gì đó khá nghiêm trọng. Ngay tuần sau, các bác sĩ ENT cho tôi hay, bướu trên cổ tôi có dấu hiệu của bệnh ung thư vòm họng. Có lẽ không cần phải kể lại, tin đó chấn động ra sao. Khi tôi trở về nhà từ văn phòng bác sĩ cùng với Janes – bạn của tôi ở Northshore – chồng tôi đã đợi trước nhà. Không còn biết phải làm những gì để hy vọng, chúng tôi cùng đứng ngay ở đó cầu nguyện. Chúng tôi cầu Chúa luôn hiện hữu bên chúng tôi, hướng dẫn chúng tôi vượt qua thời điểm khó khăn này.

Chặng đường sáu tháng tiếp theo trong đời tôi hệt như khi ngồi trên xe trượt xuống dốc lao lên đèo liên tiếp. Chúng tôi như thể đã tìm được người chữa trị ung thư rất tốt ngay trong vùng, đó là hàng xóm, láng giềng (Konnie và David, những người cùng đến Northshore). Dù vậy, hầu như mỗi ngày tôi phải đến bệnh viện để điều trị. Biết rõ tại Mỹ gia đình tôi không ai ruột thịt thân thích, ngay từ đầu Janet đã cam đoan sẽ chăm sóc tôi. Tôi cảm thấy lo âu trong tôi dường như đã dịu bớt. Việc điều trị cần khoảng 6 tháng và tôi hiểu rằng tôi cần hỗ trợ vô cùng lớn từ tất cả bạn bè và gia đình để vượt qua bệnh tật hiểm nghèo. Mẹ chồng tôi và mẹ tôi đã cùng đến và ở đây 6 tháng để chăm sóc các con tôi. Bố chồng tôi và bố tôi cũng đến, về rồi đến ở đây.

Janet và Konnie lập một trang web rất hữu ích cho việc phối hợp những trợ giúp mà bạn bè của tôi đề xuất. Mỗi tuần hai lần, thường là vào buổi chiều, những người bạn của tôi đem đồ ăn, thức uống đến, nhiều khi cùng với cả hoa và thiếp. Hàng tuần, ai đó đã đến lau chùi dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và chăm sóc sân vườn của tôi. Các cây hoa được trồng tỉa, cỏ được cắt và dọn quang cây dại… Chúng tôi đã nhận nhiều lời khen từ những người trong khu lân cận về vườn của chúng tôi trong mùa hè vừa qua.

Hàng ngày một ai đó dừng xe trước cửa nhà đón tôi vào bệnh viện và sau đó một người khác lại lái xe đưa tôi trở về nhà vào buổi chiều. Hầu hết những người đến giúp đỡ đều ở Northshore. Tôi đã biết họ thông qua MOPS, sự nghiên cứu Kinh Thánh sáng Thứ ba, qua câu lạc bộ Awana… Tôi thậm chí không quen biết ngay cả một số người trong số họ cho đến khi họ hiện diện tại nhà tôi. Tôi nhớ một chiều khi mẹ tôi, người vừa đến Mỹ vài ngày trước, bước vào phòng tôi thì thào: “Có người nào đó ngoài cửa. Con xem họ là ai?” Bên ngoài, hóa ra đó là Leigh và mẹ cô ấy đến giúp đỡ với dụng cụ. Họ mang theo đủ mọi thứ cần thiết để chúng tôi đỡ băn khoăn.

Hai con trai nhỏ của tôi có rất nhiều hoạt động trong những ngày vui chơi của mùa hè, chúng thậm chí không nhận thấy mẹ chúng lâm bệnh nặng. Mary cùng con gái và cậu con riêng của chồng dành cả ngày đưa Danny và Minh đến tham quan vườn bách thú. Konnie chở các con tôi và các con cô ấy đến cùng tham gia kỳ nghỉ hè hai tuần của trường Bible ( nơi các con của cô học) rồi sau đó đưa đón bọn trẻ con 6 tuần liền tới những lớp dậy bơi. Từ hồi cô là hàng xóm của tôi, tôi có thể gửi các con của tôi sang nhà họ mỗi khi tôi cần nghỉ ngơi. Danny và Minh cũng được rủ đến chơi nhiều ngày tại những công viên gần đó với những trẻ em trong nhiều gia đình khác trong vùng Northshore . Thật là phước lành cho chúng tôi khi thấy hai con trai mình đã vui đùa thoải mái cùng chúng bạn trong những tháng ngày ấy.

Mái tóc của tôi đã rụng sạch sau 3 vòng trị liệu bằng hóa chất. Những bạn bè của tôi tại MOPS đã đan một lô mũ len cho tôi. Họ đem đến nhiều kiểu loại và màu sắc mà tôi có thể dễ dàng kết hợp với những bô quần áo của mình.

Tôi sẽ không bao giờ có thể vượt qua thời gian khó khăn này mà thiếu sự giúp đỡ từ những người bạn của tôi. Đó là một cuộc hành trình đầy gian nan và tôi thật sự vui mừng vì nó đã thuộc về quá khứ. Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn nhận được hoa và thiếp chúc mừng, những thư email và những cuộc gọi điện thoại hỏi thăm. Tôi thật sự tin tưởng rằng bạn bè của tôi chính là quà tặng từ Đức Chúa. Tôi biết ơn Chúa đã luôn ở bên tôi và giúp cho tôi những thứ tôi cần. Đức Chúa chính là niềm tin, hy vọng và cuộc sống của tôi.

Nguyễn Hồng Hà

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Seattle 1

Một thoáng Seattle

Máy bay hạ cánh xuống sân bay Seattle trong một chiều mưa ảm đạm. Lẽ ra giữa mùa hè Seattle phải chói chang nắng vì đã có hẳn 6, 7 tháng mưa đằng đẵng từ tháng 1 tới tháng 5 và từ tháng 10 đến tháng 12 rồi, vậy mà vào giữa quãng thời gian khô nhất trong năm, trong cái ngày trung tuần tháng 7 này, mây đen vẫn trùm kín bầu trời. Chả trách thành phố này còn có tên gọi: “thành phố mưa”.

Ra đón tôi là một thanh niên thuộc thế hệ 7x “đời giữa”. Trông anh hệt như dân thể thao thứ thiệt với mái đầu húi cua trong bộ đồ áo phông, quần sóoc, tất trắng, giầy thể thao. Cái tên Vân Hà  của anh tôi đã nghe thấy cách nay nhiều năm, đôi khi tôi có trao đổi với anh đôi dòng qua email hoặc trò chuyện qua điện thoại. Ảnh của anh tôi cũng đã thấy nhưng gặp mặt đúng là lần đầu. Thế nhưng điều đó chả ảnh hưởng gì đến tình cảm giữa chúng tôi. Chúng tôi bắt tay nhau rồi ôm nhau thật chặt, ấm áp tình người.

Vân Hà muốn lái xe đưa chúng tôi lòng vòng quanh thành phố, song phần vì trời đang mưa, phần vì những ngày qua vi vu mấy ngàn km sau tay lái nên chúng tôi muốn về ngay nhà anh để chén một bữa cơm thuần tuý Việt nam và nghỉ ngơi. Hệt như mấy thành phố ở Mỹ mà tôi đã qua, xa lộ luôn kín đầy xe nối đuôi chạy với tốc độ cao ở cả hai chiều xuôi ngược mà mỗi bên đều có tới 3, 4 thậm chí 5, 6 làn xe chạy. Hệ thống giao thông của đất nước này chắc chắn tốt nhất thế giới.

Vừa lái xe Vân Hà vừa chỉ cho tôi các địa danh nổi tiếng của Seattle. Đây là công xưởng mênh mông của hãng máy bay và công nghiệp quốc phòng Boing, kia là thủ phủ của Microsoft; còn ngôi nhà của tỷ phú Bill Gates chỉ thấy thấp thoáng sau hàng cây xanh, phía xa xa bên kia hồ Washington rộng lớn.

Trụ sở Công ty mà Vân Hà đang làm cũng nằm kế bên đường cao tốc Bắc Nam của thành phố. Nếu không vào giờ cao điểm, từ nhà lái xe đến công ty chỉ hết khoảng 40 phút; nhưng hàng ngày đi làm, Vân Hà không lái xe mà thường đi bằng xe bus vì xe bus có tuyến đường riêng, đi mất khoảng gần một giờ, không sợ bị kẹt xe. Vân Hà giải thích: “ dân cư thành phố tăng nhanh, các ngành công nghiệp phát triển mạnh nhưng giao thông chưa đáp ứng kịp.” Tôi nhìn thấy đó đây những tuyến đường mới đang được xây dựng khẩn trương, trong đó có tuyến đường sắt một ray ứng dụng công nghệ cao đang gần hoàn tất.

Thành phố Seattle được xây dựng trên những quả đồi lớn, nhỏ nên đường phố thường quanh co, uốn lượn lên dốc xuống đồi. Hai bên đường, xen giữa những khu dân cư, nhiều chỗ vẫn đang còn là những cánh rừng xanh bạt ngàn. Vân Hà lái xe rẽ vào một con đường nhỏ và leo dốc liên tục. Anh dừng xe trước một ngôi nhà hai tầng xinh xắn toạ lạc ngay trên đỉnh đồi. Xung quanh nhà, những cây thông cổ thụ cao vút rì rào ca hát. Như muốn chiều khách, trời đã ngớt hẳn mưa để lộ ra những mảng trời xanh thẳm.

Cửa sổ trên tầng hai bật mở, Hồng Hà, vợ anh, một phụ nữ trông trẻ hơn rất nhiều so với tuổi gần 30 của mình xuất hiện bên cửa sổ nhoẻn miệng cười chào chúng tôi. Bên chị, hai thằng cu con cũng hớn hở hét toáng lên chào khách.

Như nhiều cô gái sinh ra trong những gia đình công chức tại Hà Nội, Hồng Hà học xong Đại học rồi kiếm được chỗ làm trong một công sở ngay tại Thủ đô. Cô cảm thấy hài lòng vì cô yêu thích công việc được làm, được người yêu và bố mẹ yêu chiều. Với cô, mọi chuyện đều tốt đẹp. Thật hạnh phúc khi người ta yêu và được yêu. Song Vân Hà của cô nghĩ xa hơn. Anh cố công săn lùng học bổng và trời đã không phụ mong ước của anh.

Họ cưới nhau và cùng lên đường đến miền đất hứa. Những báo cáo khoa học của Vân Hà tại mấy hội nghị quốc tế đã được giới học giả đánh giá cao. Khi còn chưa bảo vệ luận án Tiến sỹ, anh đã được mấy nơi chèo kéo mời đến làm. Họ gửi thư giới thiệu công ty, mô tả công việc sẽ bố trí cho anh và cả mức lương hứa hẹn sẽ trả. Có nơi còn gửi cả vé máy bay mời anh đến thăm công ty…

America – miền đất hứa – là vậy. Một khi anh cố gắng vươn lên và trở thành người có năng lực, chính các công ty sẽ phải cạnh tranh lẫn nhau để giành quyền “bóc lột” anh với những điều khoản phải điều đình, thương lượng với kẻ “bị bóc lột”.

Anh lần lượt bảo vệ thành công luận án thạc sỹ và tiến sỹ. Chị lần lượt “cho ra lò” hai thằng cu kháu khỉnh thông minh. Và họ quyết định chọn Seattle làm điểm dừng chân. Nhớ hồi ở Liên Xô cũ, người ta thường có ước mơ: ” Một vợ, hai con, ba buồng, bốn bánh”; dĩ nhiên ba buồng là một căn hộ chung cư và bốn bánh chỉ là một chiếc xe con hạng xoàng. Còn với 2 Hà, chuyện đó “nhỏ như con thỏ”. Họ đã mua nhà và tậu xe cùng những vật dụng thiết yếu khác. Dĩ nhiên phần lớn tiền mua sắm của họ là tiền vay ngân hàng. Không nợ, chưa phải là “người Mỹ”.

Bữa cơm mong đợi cuối cùng cũng đã được dọn ra : Cá nhồi nấm thịt hấp, cá rán sốt cà chua, rau muống xào, canh mồng tơi nấu với tôm nõn, đậu phụ rán… Không món nào thuộc hàng đặc sản nhưng mùi vị, mầu sắc thật hấp dẫn chứng tỏ sự khéo léo của chủ nhà. Hồng Hà đã tiến những bước dài, từ một cô gái quen được chiều chuộng chị đã trở thành một phụ nữ đảm đang, chuẩn bị hẳn một “bom” bia Heineken 5 lít để thết khách. Vừa ăn vừa nhâm nhi bia lạnh, cả chủ lẫn khách lan man đủ mọi chuyện xưa nay và chuyện bọn trẻ.

Vợ chồng Hà cho biết, tại đây, những đứa con của họ đi học không phải đóng học phí hay bất cứ một khoản tiền “xây dựng trường lớp” nào. Như nhiều đứa trẻ khác, hàng ngày xe của trường sẽ đến tận nhà đưa đón học sinh. Chúng vui vẻ đến trường, hoàn toàn không bị áp lực của điểm số vì phương châm giáo dục bậc tiểu học là “học mà chơi, chơi mà học”; nhà trường không chấm điểm đánh giá kết quả học tập và không so sánh đứa trẻ này với đứa trẻ khác. Sĩ số học sinh mỗi lớp dưới 24 đã bảo đảm cho thầy cô giáo hiểu rõ mức độ học tập của từng học sinh so với chuần, trên cơ sở đó giúp bọn trẻ phát triển theo khả năng của chính chúng và những yêu cầu cần đạt được.
Hình ảnh
Ông và cháu vui đùa ngay trước cửa nhà.

Tương lai tốt đẹp hẳn là điều không phải nghi ngờ đối với những công dân Mỹ gốc Việt tý hon này. Tuy nhiên tôi cũng nhận ra ngay lối dậy con theo truyền thống Việt Nam với những quyền uy của bố mẹ có thể làm cho trẻ ngoan ngoãn, biết vâng lời nhưng cũng dễ biến chúng trở nên sống khép kín, nhút nhát không hồn nhiên thoải mái như những bạn “ tây” con. Liệu 2 Hà có thấy rõ những hạn chế đó và có đủ bản lĩnh cùng tri thức cần thiết để dạy trẻ theo kiểu Tây hay không?

Trùng băn khoăn với bố mẹ Hà, tôi muốn biết Hà có dự tính gì trong tương lai gần? cô cho rằng khi bọn trẻ con cứng cáp hơn, cô cũng sẽ cắp sách tới trường đại học. Nước Mỹ không cấm đoán ai thực hiện uớc mơ của mình miễn là họ có ý chí, có nghị lực và biết ước mơ.

Những ngày hè các thành phố phương Bắc vào đêm rất muộn. Giống như bầu trời St Petersburg hè năm nào xa lắc xa lơ, đồng hồ chỉ 9 giờ tối mà ánh mặt trời vẫn còn nhuộm đỏ những ngọn thông. Chả buồn ngắm trời mây vì hơi mệt nên sau bữa ăn, tôi đi ngủ luôn. Đêm nước Mỹ ru tôi vào giấc mơ: “American dream”

2007
Nguyễn Quang Đạo

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lòng yêu nước

Gửi Nguyễn Hoà, người đồng đội
Trước hết tôi phải chân thành cám ơn Nguyễn Hòa vì bài “Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật?” đăng trên báo Nhân dân. Song rất tiếc không phải do nhận ra sự “xuyên tạc sự thật” theo ý phân tích của anh mà bởi vì nhờ có bài đó tôi mới biết đến và tìm đọc tiểu luận “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến” đăng tải trên BBC của giáo sư Lê Xuân Khoa với nhiều phản hồi của bạn đọc xa gần rồi tiếp tục lại được dõi theo các tranh luận của chủ đề này trên talawas.Nguyễn Hòa “mong bạn đọc nào đó đã dành thời gian theo dõi cuộc trao đổi này hãy ‘thử’ đánh giá điều” anh đã “nhận ra có chính xác hay không?”. Là một bạn đọc bình thường của báo Đảng, của talawas và chưa một lần viết bài, tôi xin không “thử” như Nguyễn Hòa đề nghị, tôi muốn viết thật, dẫu biết rằng sự thật dễ làm anh và những người trùng suy nghĩ như anh mất lòng.1.

Tôi thấy hầu hết các bài viết về chiến tranh thường đề cập tới lòng yêu nước. Người thắng trận muốn độc quyền yêu nước để tiếp tục dùng hào quang lãnh đạo thành công cuộc chiến 30 năm trước khỏa lấp những yếu kém trong chiến lược phát triển đất nước “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa”… tư bản. Người bại trận rõ ràng không muốn bị tước đoạt thứ tình cảm mà đâu phải chỉ đợi đến khi xa xứ mới xuất hiện trong họ như “khúc ruột ngàn dặm” của quê cha đất tổ.

Để phủ nhận lòng yêu nước của những người thua trận và phản bác lại ý kiến của Lê Xuân Khoa “Trong cuộc chiến này, phe cộng sản vì nhiều lý do đã thắng phe quốc gia nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ có kẻ thắng trận mới là người yêu nước”, Nguyễn Hòa có vẻ rất tâm đắc với định nghĩa: “… lòng yêu nước chỉ thật sự là lòng yêu nước khi nó chi phối sự hình thành trong mỗi người một lòng tự tôn, biết hành động vì lợi ích đất nước, không làm bất cứ điều gì gây tổn hại tới danh dự, quyền lợi của đất nước…”. Nhằm minh chứng cho việc đánh giá lòng yêu nước theo định nghĩa của mình, anh đã gần như lặp lại những gì mà sách giáo khoa từng viết “về lòng yêu nước chân chính của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học… với cái gọi là ‘lòng yêu nước’ của Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu…”. Những câu đại loại thế này tôi thấy nhan nhản trên sách báo từ nhiều năm nay rồi. Với Ngô Đình Diệm, tuy Nguyễn Hòa “không bàn về ‘lòng yêu nước’ của Ngô chí sĩ”. Thế nhưng việc đặt những câu hỏi như: “Giáo sư đã quên Luật 10/59 và những ‘cỗ máy chém’ lê khắp miền Nam?”, và “quên các cuộc chinh phạt giáo phái ở miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX ” lại chính là nhằm có thêm “chứng cứ” cho luận điểm của Nguyễn Hòa.

Nếu tôi cũng viết rằng anh đề cao lòng yêu nước của những người cộng sản nhưng cố tình quên những sự kiện Cải cách ruộng đất, Nhân văn-Giai phẩm, và quy chiếu theo định nghĩa “không làm bất cứ điều gì gây tổn hại tới danh dự, quyền lợi của đất nước” thì anh kết luận sao đây? Phải chăng vì những sai lầm khủng khiếp trong chủ trương chính sách đã để lại hậu quả vô cùng tai hại cho đất nước như thế mà có thể kết luận rằng người cộng sản không yêu nước theo định nghĩa của Nguyễn Hòa? Nếu yêu nước thương dân, người cộng sản không thể hành động theo chỉ đạo của cố vấn Tầu dùng bần cố nông đấu tố cố nặn ra đủ tỷ lệ cường hào ác bá rồi tàn sát đồng bào mình được. Trong số hàng ngàn người bị hành hình không qua xét xử dưới chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời đó, đau xót thay, có không ít những người có công lớn đối với cách mạng, kháng chiến như bà Nguyễn Thị Năm. Lời xin lỗi của Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp không làm người chết sống lại được.

Đôi khi tôi cũng mắc cái bệnh giả định “để lý giải lịch sử” như anh. Giá như nhà nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa không khủng bố, đàn áp trí thức mà lại cử Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đứng đầu ủy ban soạn thảo luật pháp và được Quốc hội thông qua, một xã hội dân chủ pháp trị đã có thể hình thành và phát triển từ thời đó và biết đâu chiến tranh đã không xảy ra? Nếu như những văn nghệ sĩ như Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm… không bị Đảng trấn áp thì cuộc đời này chắc sẽ có thêm bao bài ca bất hủ, những bài thơ sâu thẳm lòng người kịp thời ra mắt công chúng và đương nhiên sẽ góp phần sản sinh ra những thế hệ cầm bút không biết minh họa, không phải viết theo chỉ đạo của ai mà chỉ biết viết theo mệnh lệnh của trái tim mình? Có thể anh sẽ biện luận giống như một nhà sử học từng chống chế: khi Cải cách ruộng đất tôi còn nhỏ nên không biết rõ. Vậy xin hỏi anh, cuộc chiếm đóng Cămpuchia của Quân đội Nhân dân Việt nam bị cả thế giới lên án và cấm vận Việt Nam trong nhiều năm có “gây tổn hại tới danh dự của đất nước” không? Việc áp dụng chính sách cải tạo, mà thực chất là bỏ tù không xét xử hàng chục ngàn viên chức, sĩ quan chế độ Sài Gòn làm gia đình họ điêu đứng bởi các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp khiến hậu quả là hàng trăm ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển cả có “gây tổn hại tới quyền lợi của đất nước” không? Ai chịu trách nhiệm về những thảm cảnh sau 1975 này? Họ có lòng yêu nước không?

Dựa vào lời kể của cha mình và mặc dù đã rào trước “chưa biết sự chuẩn xác đến đâu”, anh vẫn cho đó là tư liệu để nhận diện Quốc dân Đảng “kinh khủng lắm”. Nếu qua hiện tượng để rút ra bản chất như thế tôi sẵn sàng giới thiệu Nguyễn Hòa đến phỏng vấn cha tôi, anh sẽ bổ sung được thêm khá nhiều tư liệu. Trước 1945, cha tôi tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào sinh viên và từng nếm mùi ngục tù; trong 9 năm kháng chiến bàn chân ông đã in dấu trên khắp các ngả đường chiến dịch từ Cao-Bắc-Lạng đến Thái-Hà-Tuyên rồi sau đó ông đứng trên bục giảng đại học cho tới lúc về hưu. Ông trân trọng những tấm huân chương và huy hiệu 50 tuổi Đảng. Trong nhà tôi có một tấm bằng Tổ quốc ghi công được treo ở chỗ trang trọng nhất. Tôi dám chắc không vì những thứ đó mà cha tôi không kể cho anh những kỷ niệm về giai đoạn 45-46 như ông đã kể cho tôi nhiều năm trước đây. Vâng, cũng “kinh khủng lắm”, mạng người như ngóe, đồng chí của ông tự nhiên biến mất rồi sau đó cấp trên của ông trả lời ráo hoảnh “thằng ấy tiêu rồi”. Đấy không phải là chuyện cá biệt, hiếm hoi. Trên khắp đất nước Việt Nam, Đảng Cộng sản triển khai thanh toán đảng phái đối lập cũng“chính vào lúc đất nước đang rất cần sự thống nhất để tập trung lực lượng đương đầu với cuộc xâm lược lần thứ hai của người Pháp”. Theo cách suy diễn của anh, Đảng Cộng sản cũng “kinh khủng lắm”, phải không anh Nguyễn Hòa?

Tôi đồng ý với anh rằng: “đối với các vấn đề thuộc về lịch sử lại cần phải bàn bạc, phân tích cẩn trọng và thấu đáo, vì lịch sử không phụ thuộc vào khát vọng của mỗi chúng ta”. Lịch sử có vô số sự kiện mà ai cũng có thể thò tay vào chọn những biến cố nhằm giành phần “thông thái”. Rõ ràng không thể giản đơn chỉ căn cứ vào những sai lầm, thậm chí khủng khiếp và kéo dài, để xóa bỏ hoàn toàn lòng yêu nước của các phe tham chiến, hoặc ngược lại chỉ dùng những chiến thắng, những thành tựu lớn nhỏ để ca ngợi chính nghĩa thuộc về chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoặc Việt Nam Cộng Hòa theo quan điểm của mình. Đương nhiên vì thế không thể giữ nguyên những quan niệm từ thời chiến tranh, nhất là theo ý thức hệ của một phía, để phân biệt “lòng yêu nước chân chính” với “lòng yêu nước giả hiệu, cơ hội”.

2.

Tôi phải công nhận câu chữ của Nguyễn Hòa rất “kêu”: “tôi luôn cố gắng tôn trọng các nguyên tắc khách quan – toàn diện – lịch sử – cụ thể, xác lập tính logic, dựa trên các cứ liệu lịch sử xác thực đã thâu nhận được, độc lập xét đoán…” Kết luận của tôi không xuất phát từ một tiền đề chủ quan, mà xuất phát từ các thao tác nhằm khái quát một cách khoa học về thực tiễn”. Song thực tế lại đã cho thấy điều ngược lại. Phần trên tôi viết không phải nhằm “kể tội” và đó cũng không phải là kết luận của tôi về lịch sử. Tôi chỉ muốn sử dụng chính “phương pháp luận Nguyễn Hòa” để chứng minh chính Nguyễn Hòa mới là người viết theo cảm tính, chủ quan, phiến diện, nên việc anh mỉa mai giáo sư Lê Xuân Khoa vì đã “bảo lãnh” cho hoạt động nghiên cứu bằng thâm niên hơn 20 năm dạy đại học toàn không có cơ sở.

Với lời phát biểu: “Đất nước mình đã khác nhiều lắm so với những ngày tôi từ chiến trường trở về” ngầm ý của anh phải chăng để “trả lời” cho câu hỏi của một bạn đọc nào đó mà Nguyễn Hòa có nhã ý trích dẫn: “Trong cuộc chiến giáo sư Khoa ở đâu?”. Mà anh ở chiến trường nào, trong bao lâu, một khi anh“sinh sau 1954 vài năm”?

Mặc dù tôi đọc bài của Lê Xuân Khoa sau khi đọc bài của Nguyễn Hòa, tôi vẫn không sao nhận ra được điều anh đã phê phán giáo sư qua cách đặt câu hỏi rất phũ phàng: “phải chăng giáo sư lại mong muốn Tổ quốc Việt Nam – nơi ông đã sinh ra, lại mãi mãi bị chia cắt, mãi mãi phải quằn quại dưới gót giày ngoại bang?” Tại sao một người có tấm lòng yêu nước và được trang bị những tri thức về lí luận phê bình như anh lại có thể “khống luận” (chữ của anh) như thế trong bài đăng trên tờ Nhân dân? Nguyễn Hòa có thể trả lời rằng anh viết vì trách nhiệm của người cầm bút, vì lương tâm thôi thúc. Anh viết chỉ bởi đó là nhận thức của anh, bất bình của anh trước “các luận điệu của những kẻ đã và đang rắp tâm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phá hoại quá trình hòa hợp của người Việt Nam”. Chắc chắn anh sẽ không nhận một điều, đó là anh viết theo đơn đặt hàng của Đảng với những yêu cầu cụ thể của Ban Tư tưởng Văn hóa.

Lê Xuân Khoa quả là “ngây thơ” khi “gửi e-mail thư và bài trả lời cho báo Nhân Dân” rồi yêu cầu tòa báo dành cho ông “quyền trả lời ông Nguyễn Hòa”. Làm gì có chuyện bài của giáo sư được đăng tải trên bất cứ tờ báo thường thường nào ở Việt Nam chứ đừng nói đến cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Hòa có lẽ biết rõ điều này? Tôi tự hỏi, không biết có bao nhiêu bạn đọc như tôi nhưng lại không có điều kiện vào mạng để được quyền đọc bài rồi tự tìm hiểu sự thật chứ không phải qua “lăng kính” Nguyễn Hòa? Không phải tất cả các ý kiến của giáo sư Lê Xuân Khoa tôi đều nhất trí, song tôi muốn mời Nguyễn Hòa đọc lại thật kỹ kết luận này của giáo sư:“Ba mươi năm sau chiến tranh, đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần phải nhận ra thực chất của cuộc chiến, ôn lại những bài học quá khứ và nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để có thể cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới và có đủ khả năng đối phó với những đe dọa mới từ phương Bắc.” Không ai có thể thể hiểu lầm được mong mỏi đó của giáo sư, phải không anh?

3.

Bàn về lòng yêu nước, cả Lê Xuân Khoa lẫn Nguyễn Hòa hầu như chỉ tranh luận chủ yếu về giới lãnh đạo. Phải chăng yêu nước là đặc quyền chỉ dành cho giới chóp bu và những người nổi tiếng, những bậc tiền bối? Thế còn những chiến sĩ của hai miền Nam Bắc, họ có yêu nước không? Phải chăng họ chỉ là đám dân đen ngu muội bị đôn quân bắt lính, bị tuyên truyền nhồi sọ bởi “lý tưởng cộng sản”, “chính nghĩa quốc gia” rồi tự biến mình thành những quân tốt trên bàn cờ chính trị, thành bia đỡ đạn lót đường công danh cho các quan lớn và những chính khách sa-lông? Thật là bất công nếu không đề cập đến lòng yêu nước của những người lính. Sẽ càng bất công hơn nếu chỉ nói về anh bộ đội của phe thắng trận mà quên đi người chiến sĩ quân đội Sài Gòn.

Nguyễn Hòa tâm sự rằng: “đã chứng kiến những loạt bom Mỹ giết chết hàng trăm y sinh của Bệnh viện Yên Bái năm 1965, đã có mặt ở Hà Nội trong trận quyết chiến ‘Ðiện Biên Phủ trên không’ năm 1972… và đã hiểu thế nào là ‘nhà tan cửa nát’ , đến tuổi trưởng thành tôi cùng bạn bè của mình lại tự giác ra trận. Không có ai ‘ủy nhiệm’, mà chỉ có lòng yêu nước, lòng tự trọng của con người”. Cũng giống anh, tôi đã thấy nhiều cảnh chết chóc, tàn phá do bom đạn của không lực Hoa Kỳ gây ra tại Hà Nội và nhiều vùng quê khác. Như bao thanh niên miền Bắc thời đó, 18 tuổi tôi cũng lên đường nhập ngũ trong tưng bừng cờ giong, trống mở. Bạn bè nhộn nhịp tiễn đưa; chỉ âm thầm khóc, mẹ tôi.

Khi vào chiến trường, những mùa mưa đói quay đói quắt, những quằn quại sốt rừng đã cướp đi vài sinh mạng đồng đội. Lúc tham chiến, bom rơi đạn nổ lại hớt đi nhiều hơn những mạng sống chiến hữu. Kỷ niệm khó quên nhất là những lần đào huyệt chôn xác người vừa cười nói với mình ít phút trước. Tử thần luôn rình rập mọi phía. Đã có kẻ đào ngũ xuyên rừng tìm đường lần ra Bắc, cũng có người vượt chiến tuyến, trèo lên máy bay ra rả gọi chiêu hồi. Đó chỉ là thiểu số nhỏ nhoi. Cái chết, cái đói đâu ám ảnh chúng tôi bằng bị coi là hèn nhát. Chúng tôi chiến đấu dũng cảm bên nhau và cùng chia ngọt, sẻ bùi. Trong gian lao ác liệt tình đồng đội càng thêm trong sáng, gắn bó. Tôi không biết tại sao bài ca của một nhạc sĩ miền Nam lại có trên môi chúng tôi: “Ngoan ngoan con ơi, ngủ nhé ngủ ngoan đi nhé, trong vòng cánh tay của mẹ. Trên tiền tuyến giờ cha con còn, canh trời sang bừng muôn sao khuya”. Chính trị viên cấm chúng tôi hát nhạc tiền chiến, nhưng có lần tôi nghe thấy ông ta huýt sáo theo điệu nhạc “Ngày trở về” của Phạm Duy. Trong khói lửa chiến tranh, những người lính chúng tôi chỉ khao khát hòa bình; chấp nhận hy sinh cho đất nước yên bình.

Tôi vẫn nhớ lời bài ca đã từng là ý nghĩa để người người lớp lớp thanh niên miền Bắc cầm súng chính là “quốc ca của chính phủ lâm thời” do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác:

Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước

Ôi xương tan máu rơi lòng hận thù ngất trời
Sông núi bao nhiêu năm cắt rời
Đây Cửu Long cuộn sóng, đây Trường Sơn vinh quang
Thúc dục lòng ta xung phong đi giết thù
Vùng lên nhân dân Miền Nam anh hùng
Vùng lên, xông pha vượt qua bão bùng
Thề cứu lấy nước nhà, thề hy sinh đến cùng
Cầm gươm, ôm súng xông tới.

Cùng lúc đó, những người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa ra trận với tâm thức có khác chúng tôi không? Nhiều năm sau chiến tranh tôi mới có dịp trò chuyện với những chiến sĩ bên kia chiến tuyến và được đọc nhiều tác phẩm do các nhà văn, nhà thơ Sài Gòn xuất bản. Bấy giờ tôi mới hiểu rõ hơn, trước lúc vào lính, nhiều người trong số họ cũng là những thanh niên học sinh như chúng tôi và hành trang ra trận của họ cũng đầy những trang sử hào hùng của dân tộc với những Mê Linh, Bạch Đằng, Chi Lăng cùng những tên tuổi Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… Nhiều người trong họ đã dự các đám tang người thân là những dân thường chết oan do pháo kích của đối phương, có người còn thấy những hố chôn xác tập thể hàng trăm người ở Huế năm 1968 sau khi đối phương rút lui. Thế nhưng cũng hệt như anh và tôi, họ không chỉ biết có căm thù vì đã chứng kiến những tội ác và chịu ảnh hưởng của bộ máy tuyên truyền đồ sộ trong chiến tranh. Trái tim họ cũng ngập tràn tình cảm yêu thương và lòng nhân ái muôn thuở của người Việt Nam. Khi lâm trận, như chúng tôi, họ cũng chiến đấu với tinh thần quả cảm vì sau lưng họ là quê hương yêu dấu, là những người ruột thịt thân yêu. Họ dũng mãnh kể cả lúc sắp tàn cuộc chiến như trong trận tử thủ Xuân Lộc. Nếu có gì khác đáng nói giữa người lính hai bên thì có lẽ đó là chuyện phụ nữ. Trong khi chúng tôi biền biệt xa cách, chỏng gọng thèm khát “bóng Kiều xưa”, há hốc mồm rần rật huyết quản nghe đám lính “già” kể chuyện phòng the rồi “kiểm tra súng” của nhau thì những sĩ quan binh lính Sài Gòn vẫn đều đặn
“ngày về phép anh cùng em dạo phố
tay chiến binh đan năm ngón tay mềm
…trời đổ mưa hai đứa đứng bên thềm
anh che em khỏi ướt tà áo tím
anh quen rồi, không lạnh, lính mà em”.

Hẳn vì hòa bình êm ả song hành cùng chiến tranh ác liệt như thế đã khiến không ít người trong bọn họ đảo ngũ, trốn quân dịch, lo lót để khỏi xung trận.

Và có lẽ Nguyễn Hòa cũng biết rằng âm hưởng trầm hùng trong bài ca của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước lại cũng là lời thúc dục lớp lớp thanh niên miền Nam ra trận.

Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi.
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền

Dù cho thây phơi trên gươm giáo.
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người công dân luôn vững bền tâm trí,
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ,
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ,
Thoát cơn tàn phá vẻ vang nòi giống,
Xứng danh nghìn năm giống Lạc Hồng!

Trên mặt trận, thanh niên hai chiến tuyến cùng ca hai bài hát do cùng một nhạc sĩ sáng tác rồi xông lên giết nhau, chỉ riêng điều đó thôi cũng đã thấy cay đắng rồi. Lại giả tưởng rằng, Nguyễn Hòa cũng như tôi sinh ra tại miền Nam thời đó, còn họ lớn lên ở miền Bắc, liệu chúng ta ra trận hay trốn quân dịch, chúng ta có hành động khác với “trai thời loạn” không? Chúng ta, (anh, tôi và họ) có yêu nước không?

Trong chiến tranh, những người con ưu tú của dân tộc đã nhả đạn vào nhau bởi động lực khác nhau. Có một sự thật không ai chối cãi là chúng ta đã tàn sát lẫn nhau. Dù phe nào đi nữa thì ai cũng có thể nói rằng mỗi tấc đất của tổ quốc đều thấm bao máu đào của những anh em cùng chung dòng giống ngã xuống vì đất nước. Nhưng thử hỏi có những ai thật sự đau nỗi đau này? Gọi tên gì cho cuộc chiến ư? Hãy đếm xác binh lính và thường dân trên toàn cõi Việt Nam mà đặt tên cho nó. “Cuộc chiến năm triệu mạng” chẳng hạn.

Sau 30 năm nhìn lại, liệu với kiểu qui chiếu của mình, Nguyễn Hòa có dám khẳng định những kẻ thù năm xưa, “bè lũ bán nước” trước đây mà hiện nay là những oan hồn đang tủi hờn nơi chín suối và những cựu chiến binh, thương bệnh binh đang sống trong và ngoài nước đều là những người không có lòng yêu nước hoặc là “yêu nước giả hiệu, cơ hội” không? Tôi chắc chắn họ không phải là những tên ác ôn mất hết nhân tính, mù quáng cầm súng bảo vệ chế độ tay sai Mỹ cũng như chúng ta không thể là “các thế hệ thanh niên miền Bắc bị đánh bùa mê đến nỗi chỉ biết hận thù, đấu tranh, giết chóc” (Trần Trung Đạo).

Không ai có quyền thóa mạ lòng yêu nước của những người lính can trường, dẫu họ còn sống hay đã chết, thuộc phe này hay phe kia. Cũng không ai có quyền đưa ra những định nghĩa cứng nhắc hoặc giữ mãi những thành kiến có sẵn để phủ nhận hay bóp méo lòng yêu nước. Quá khứ đã quá đau thương rồi, nhưng với hiện tại còn đầy thù hận như tôi đang thấy thì bao giờ mới có tương lai phồn vinh cho dân mình? Thánh, Trời, Chúa, Phật đều ở xa, chỉ có ta với ta, không dẹp bỏ được hiềm hận dĩ vãng thì con cháu ta trở thành dân Tầu có lẽ cũng không muộn lắm đâu.

30 năm trước, “lý tưởng quốc gia” có thật hay giả hiệu cùng với “chủ nghiã cộng sản” khoa học hay lỗi thời, đã chia rẽ dân tộc Việt, gây nên chiến tranh tang tóc. Ngày nay, trong hòa bình, chỉ có lòng yêu nước thuần khiết, tinh chất mới có thể trở thành chất keo gắn bó người Việt lại với nhau, dẫu trước kia họ là ai và bây giờ họ ở đâu, kể cả những người sinh sau cuộc chiến. Thiết nghĩ, không ai được “độc quyền yêu nước” cần phải được hiểu trên tinh thần như thế và đó mới chính là chìa khóa để “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

4.

Trong bài viết của Nguyễn Hòa có một chi tiết khiến tôi thấy thú vị. Đó là đoạn anh viết về xuất xứ tên của anh và con anh. Hòa Bình luôn luôn là điều mong mỏi của bất cứ người lính, người dân nào trên hai miền đất nước từng trải qua chiến tranh như anh và tôi. Từ những chết chóc đau thương và những tàn phá hủy diệt chúng ta chỉ khao khát yên bình. Khi đất nước đã im tiếng súng, chúng ta vẫn luôn cầu mong thằng Bình con anh, cái Minh con tôi cũng như muôn đời con cháu sẽ không bao giờ phải cầm súng bắn bất cứ ai hoặc bị ai bắn nữa. Bình Minh của chúng ta đang sống trong Hòa Bình.

Nhưng Hòa bình chỉ là chấm dứt Chiến tranh. Chỉ có Hòa bình thôi không đủ. Với mỗi người, với từng dân tộc, với cả loài người còn có một khát vọng nữa cũng mang giá trị muôn thuở, đó là Tự do. Tự do bất diệt. Hẳn Nguyễn Hòa biết rõ xuất xứ của câu này: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”. Trong những năm qua, Bình Minh của chúng ta và tất cả những người trẻ sinh sau 1975 nào đã có quyền bình đẳng, được sống trong Tự do và Hạnh phúc? Nước Việt Nam đã độc lập, thống nhất, người dân nước Việt đã được hưởng hòa bình, nhưng Tự do vẫn là ước mơ quá xa vời.

Ai đó đã nói nhỉ, tự do ngôn luận là linh hồn của tự do. Với hơn 600 tờ báo, Việt Nam vẫn không hề có tự do báo chí bởi tất cả những tờ báo đó được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Nhưng làn gió dân chủ của Hiệu ứng domino ngược vẫn thổi đến Việt Nam, xóa bớt sự sợ hãi trong dân chúng đồng thời giúp họ thêm hy vọng vào qui luật phát triển tất yếu của xã hội văn minh.

Đọc bài của Nguyễn Hòa trên báo Đảng, tôi hiểu anh chỉ là người thừa hành. Đọc các bài tranh luận của anh trên talawas, tôi cảm thông với anh, anh viết rõ ràng “mềm” hơn trước rất nhiều. Tôi sẽ hoan nghênh nếu đúng là anh viết chỉ bởi chính anh. Theo tôi, đó là hành động dũng cảm của cựu chiến binh Nguyễn Hòa. Anh đã vượt qua nguyên tắc của tổ chức khi gửi bài cho một website ở nước ngoài và có thể anh đang gặp phiền phức vì việc “xé rào” này. Tôi muốn chúc anh tiếp tục vững tiến trong cuộc hành trình tìm sự thật qua đối thoại. Đó cũng chính là bước đi của dân chủ phải không anh?

Đầu bài viết, tôi đã cám ơn anh, trước khi dừng bút, tôi lại muốn cám ơn anh lần nữa. Như khá nhiều bạn đọc khác, tôi chỉ thích đọc. Rất nhiều lần tôi đã cầm bút viết nháp những suy tư của một cựu chiến binh trước thời cuộc nhưng rồi lại xé bỏ do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân đó là người dân không có quyền phát biểu chính kiến của mình dù hiến pháp đã ghi. Chính những trang viết của Nguyễn Hòa đã như giọt nước làm tràn ly, khiến tôi không thể nấn ná nữa, tôi cầm bút viết bài đầu tiên “trình làng”. Cuộc đời tôi về nhiều điểm có thể coi như giống Nguyễn Hòa. Tôi sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh và rồi cầm súng trong chiến tranh; từ người lính binh nhì trong chiến tranh, tôi và anh đã trở thành sĩ quan cấp tá trong hòa bình. Rất có thể ngày vào Đảng của tôi có lẽ cũng khá gần với ngày anh Hòa vào Đảng, nghĩa là ngót nghét trên dưới 30 năm. Vậy mà sao giữa anh và tôi, những người chung chiến hào năm xưa lại có vẻ khác trận tuyến hôm nay? Tôi không tin như thế, giữa anh và tôi vẫn có tình đồng đội vì tôi hoàn toàn nhất trí với điều anh viết, chúng ta đều là những“người Việt Nam bình thường và luôn luôn mong muốn những điều tốt lành cho đồng bào của mình”. Tôi muốn bổ sung thêm, và chúng ta cùng thể hiện lòng yêu nước thuần khiết của mình qua những hành động cụ thể nhằm thực hiện lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Tôi muốn viết thêm đôi dòng nữa gửi người đồng đội. Khi tôi ngồi nháp, vợ tôi nước mắt lưng tròng, kéo tay chồng, xin chồng đừng viết. Em lo lắng một cuộc sống bất ổn có thể đến với gia đình yên ấm của em. Em hiểu một khi đã có bài đầu tiên tất sẽ có bài khác tiếp theo và những hệ lụy của nó là điều có thể hiểu được trong xã hội toàn trị này. Tôi không thể cất đi những âu lo trĩu nặng trong em và vì thế chỉ biết nhắc lại đoạn kết trong một bức thư ngỏ:

“Tự do không thể van xin mà được. Tự do phải giành lấy mới có!”

Nguyễn Xuân Quang Đạo
(Nguyễn Xuân Đức, http://www.talawas.org)

Đăng tải tại Uncategorized | 2 phản hồi